Tưởng niệm 50 năm người Việt mất miền Nam Tự Do

Trả lời
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Tưởng niệm 50 năm người Việt mất miền Nam Tự Do

Bài viết bởi Hoàng Vân »

          




          
          
30-04-2025
tưởng niệm 50 năm người Việt mất miền Nam Tự Do
          
          





          


Nước mất nhà tan,
nhưng đoàn người ly hương vẫn nâng cao biểu tượng của Tự Do mọi nơi, mọi lúc
như một lời thề cho con cháu đem cờ này về lại quê hương

cho ánh Tự Do trải vàng từ Cà Mau đến Nam Quan
cho dòng Nhân Ái chảy mãi trong tim người Nam Trung Bắc



          



          
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: tưởng niệm 50 năm người Việt mất miền Nam Tự Do

Bài viết bởi Hoàng Vân »

Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: tưởng niệm 50 năm người Việt mất miền Nam Tự Do

Bài viết bởi Hoàng Vân »






  • Sự loan tin bừa bãi của truyền thông Tây Phương và Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam
    _________________________
    Mường Giang




    Trong tác phẩm “Chiến tranh ngôn ngữ” của Giáo sư Asabriggs, nguyên giám đốc Âu Châu Vụ của Ðài BBC Luân Ðôn, có giải thích về hiện tượng loạn ngôn của một số người làm truyền thông báo chí trên khắp thế giới. Theo ông, thì sự bộc phát của chiến tranh, không những vì quyền lợi, ý thức.. mà ngôn ngữ cũng dự phần. Chính sự loan tin bừa bãi, những bài viết loạn ngôn, những hình ảnh lắp ghép thiếu trung thực.. đã gây ảnh hưởng khủng khiếp, khi nó được nói tới bằng tất cả các chiều hướng đối nghịch, qua phương tiện truyền thông, truyền thanh, truyền hình.



    Khác với cảnh chợ văn làng báo vàng thau lẫn lộn thời VNCH, tất cả những người làm truyền thông Tây phương và Hoa Kỳ, dù chuyên nghiệp hay tài tử, đều đã tốt nghiệp các khóa huấn luyện hành nghề báo chí, ký giả, phóng viên thông tin và truyền hình, tại các trường đại học công hay tư. Tuy nhiên hầu hết đã không làm đúng hay giữ được những bài học căn bản, nhất là các ký giả chiến trường hay những người chuyên săn tin tức có liên quan tới những biến cố chính trị, chỉ vì lợi nhuận thương mại và sự cạnh tranh nghề nghiệp. Ðó là chưa nhắc tới chuyện dài báo chí, truyền thông tại các nước thứ ba và CS, không bao giờ dám viết đúng sự thật.



    Bởi vậy chẳng ai lấy làm ngạc nhiên, trước sự thú nhận của Macolm Browne, một thông tin viên lão thành và tên tuổi của hãng Reuter, đã sống lăn lộn nhiều năm, khắp các chiến trường Nam VN. Trong kỳ đại hội lần 5 của Hiệp Hội Thông Tín Viên Quốc Tế, được tổ chức tại nước Anh vào cuối năm 1968, ông đã chỉ trích gay gắt các phóng viên ngoại quốc, nhất là Tây phương và Hoa Kỳ, đã không còn giữ được sự vô tư, chính xác về cuộc chiến VN. Tất cả gần như hành động theo nhu cầu cạnh tranh và chính sách đối ngoại của quốc gia họ, phần lớn thiên về phía Bắc Việt. Cũng do hành động bẻ cong ngòi bút này, mà suốt cuộc chiến VN từ 1965 cho tới lúc người Mỹ rút quân bộ chiến về nước vào năm 1973, qua những loan báo tin tức chiến sự bừa bãi một cách trắng trợn, đã làm cho thế giới hiểu lầm rằng “Chỉ có quân Mỹ mới đánh giặc thực sự, còn QLVNCH thì hèn nhát bỏ chạy, nên phải bị mất nước về tay CS”..



    Cái thành kiến bất công không lương thiện trên, tưởng đâu đã bị chôn vùi trong nấm mồ nhục nhã của người Mỹ, qua hậu chứng VN sau ngày 30-4-1975. Thế nhưng mới đây vào năm 2005, trong một buổi nói chuyện về sự tham chiến của Hoa Kỳ tại Iraq, John Mc.Cain, thượng nghị sĩ đảng Cộng Hòa, kẻ đã ra tranh cử Tổng thống Mỹ vào năm 2008 và đã rớt đài, vẫn ngang ngược tuyên bố bậy bạ rằng “Nam VN không bao giờ có một chính quyền hợp pháp tại Sài Gòn (South Vietnam never had a legitimate goverment in Saigon), còn Hồ Chí Minh là người Quốc Gia yêu nước.”. Tệ hơn là cả Tổng thống G.W.Bush và Bộ trưởng QP Donald Rumsfeld, khi trả lời những câu phỏng vấn của nhà báo O’ Reilly vào năm 2004, đều tuyên bố “Người Nam VN đã không chiến đấu (The South Vietnammese did not fight )”. Sự thật những người Mỹ trên, đều biết mình ăn nói bừa bãi, dối trá không đúng sự thật. Nhưng vì đang lúc cần biện minh, trước dư luận chống đối trong và ngoài nước, việc quân Mỹ đang tham chiến tại Iraq, nên vẫn cứ nói những điều không đáng nói, nhất là sự thật của cuộc chiến VN, ngày nay đã bị phanh phui lột trần. Sau ngày 7-11-2006, Rumsfeld từ chức Bộ trưởng QP, và đã được David Gate thay thế, vì sự thất bại của chính sách quân sự Mỹ tại Iraq, do chính đương sự dàn dựng.



    1- Siêu cường Mỹ hãnh diện về sự loan tin bừa bãi của báo chí, truyền hình suốt cuộc chiến VN:



    Ngày nay cả thế giới đều biết rõ, sự thất bại của người Mỹ khi tham chiến tại Nam VN, không phải ở chiến trường, mà do ảnh hưởng tai hại của báo chí Mỹ gây ra. Mở đầu cho những lời sám hối của một số nhà báo Tây phương và Mỹ, trước hằng triệu oan hồn tử sĩ của ba nước Ðông Dương, đã bị Cộng Sản sát hại, sau khi cưỡng chiếm được toàn vùng, qua sự góp miệng của cái gọi là truyền thông, truyền hình, báo chí. Năm 1980, Kenneth Crawford bình luận gia của tuần báo Newsweek, là kẻ cầm bút đầu tiên thẳng thắn xác nhận rằng “Chiến tranh VN là cuộc chiến đầu tiên trong lịch sử Mỹ, có nền báo chí hầu hết đều thân thiện hay đứng hẳn về phía kẻ thù của chính tổ quốc mình”.Cựu Tổng thống Nixon cũng đã ghi nhận sư kiện bi thảm trên, trong tác phẩm The Real War. Theo ông, chính sự bẻ cong ngòi bút này, mà những chiến thắng lớn của Quân lực Mỹ và VNCH trước Cộng sản Bắc Việt khắp các mặt trận, từ cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân (1968), Cuộc Hành Quân Vượt Biên Sang Kampuchia (1970), Hạ Lào (1971), Mùa Hè Ðỏ Lửa (1972).. đã biến thành đại bại. Còn VNCH ngăn chống quân xâm lăng Bắc Việt, để tự vệ và bảo toàn đất nước, tài sản và sinh mạng của mình, thì bị tố cáo là đánh giặc thuê cho Mỹ. Trong lúc đó, Hồ và đảng CS, làm tay sai cho Nga-Tàu, gây nên cảnh đạn bom lửa loạn, tàn ác dã man, sát hại đồng bào, thì lại được đề cao bưng bợ, qua danh từ “giải phóng”.



    Lạ lùng hơn hết, là lúc nước Mỹ đang có chiến tranh với Bắc Việt, thì nữ tài tử Jane Fonda cùng với cựu bộ trưởng tư pháp Mỹ Ramsay Clark tới Hà Nội, công khai chửi bới và lăng nhục những người lính và cả tổ quốc mình. Vậy mà lúc trở về nước, cả hai vẫn được báo chí ca tụng hết lời, chẳng khác nào những nam nữ anh hùng đang lập được một chiến công hiển hách cho dân tộc Hoa Kỳ. Tết Mậu Thân (1968), Cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng, Việt gian nằm vùng tại địa phương, đã tàn sát dã man đồng bào Nam VN khắp chốn nhưng kinh khiếp nhất là tại cố đô Huế. Vì hầu hết các phóng viên Tây phương và Mỹ thuộc thành phần phản chiến, lại bị cộng sản đầu độc tuyên truyền, nên chẳng mấy ai quan tâm tới thảm sát tại Huế. Họa hoằn lắm mới thấy được bản tin chiến sự của Peter Braestrup, trưởng văn phòng báo Washington Post. Sau đó thêm George McArthur của hãng thông tấn AP.. nhưng những bản tin này đâu khác gì “tin xe cán chó”, nên chỉ được cho đăng ở trang trong của tờ báo.. Bi hài hơn, là sự kiện truyền thông báo chí Tây Phương và Hoa Kỳ, đã coi cuộc tấn công của Bắc Việt khắp lãnh thổ Nam VN trong dịp Tết Mậu Thân (1968), như là một cơ hội vàng ròng, để khai thác tuyên truyền những chiến thắng của CS lúc đầu tại một vài nơi, đồng thời bôi bác QLVNCH là hèn kém, không chịu chiến đấu. Lại lên án sự tàn bạo dã man của quân Mỹ, đã dùng bom đạn cầy phá những tỉnh thị đông người.



    Ðể thu hút sự chú ý của công luận thế giới, tất cả các thông tín viên quốc tế và hệ thống truyền hình cũng như tờ Newsweek Mỹ, được lệnh thâu góp tin tức, hình ảnh liên quan tới mọi nơi chốn đã xảy ra chiến cuộc, do bom đạn tàn phá, rồi đổ hết tội cho người Mỹ gây ra. Trong khi đó, chẳng ai thèm nói tới nguyên nhân vì sao có thảm họa này, kể cả sự khủng bố, chém giết, chôn sống đồng bào Huế của VC.



    Paul A.Gigot, một bỉnh bút về điểm sách tại Mỹ, vào tháng 7 năm 1979 đã công khai vạch mặt David Halberstam, ngay lúc hắn ra mắt quyển “The Power That Be”, khi đặt câu hỏi về lý do “những người VN liều chết bỏ nước ra đi” tìm tự do sau ngày 30-4-1975. Ðây là tên nhà báo bất lương hung hăng nhất của Mỹ, lúc nào cũng mù quáng ca tụng cuộc xâm lăng của Bắc Việt như một hành động thần thánh. Hắn cũng là người loan tin thất thiệt về trận tết Mậu Thân, làm cho người Mỹ xấu hổ vì tưởng mình đã thua VC, nên sinh ra bất mãn và muốn rút quân về nước.



    Gần suốt cuộc chiến VN, ta thấy hầu hết các phóng viên ngoại quốc luôn loan tin thất thiệt, có nhận định theo thiên kiến và đã đối xử bất công với VNCH.. bởi vì họ tới VN bằng con đường độc đạo không lối thoát, lại còn mang nặng tư tưởng phản chiến và sự nhồi nhét luận điệu tuyên truyền của Quốc tế Cộng Sản (QTCS) trong óc-tim. Hơn nữa phần lớn các phóng viên tới VN để săn tin chiến trường, chẳng có bao nhiêu người có cơ hội hay đủ can đảm theo các đơn vị hành quân tại mặt trận. Do trên, để có tin gửi về, đã phải dựa theo những tài liệu, được diễn dịch từ các cố vấn Mỹ hay theo các cánh quân Hoa Kỳ. Trước năm 1973, những thông tín viên ngoại quốc nào được MACV cấp cho chiếc thẻ nhà báo, coi như đã trúng số độc đắc. Thời gian đó, phương tiện chuyển vận của quân lực Mỹ tại VN rất hùng hậu, thuận tiện nhất là trực thăng có thể đi tới mặt trận nào cũng được. Còn QLVNCH thì thiếu thốn đủ mọi thứ, hơn nữa trong đầu óc của các phóng viên ngoại quốc, đã sẵn thành kiến “Lính VNCH đâu chịu chiến đấu”, vì vậy có theo cũng chẳng thu được tin tức gì..



    Cũng có ít người gan dạ theo lính ra tới mặt trận, đến khi chạm mặt với thực tế vài lần, đầy khó khăn nguy hiểm cùng cái chết lúc nào cũng chực chờ, bởi vậy đã quay về săn tin qua người Mỹ. Hơn nữa các phóng viên khi được lệnh tới công tác tại Nam VN, họ đâu có thực quyền để viết ghi theo ý mình, mà phải làm theo chỉ thị của cơ quan, đã hướng dẫn sẵn tầm mắt, sự suy nghĩ, cảm nhận.. làm sao để khỏi bị trật đường rầy. Ðó là tự do ngôn luận của nền báo chí Âu-Mỹ, được dàn dựng từ đài phát thanh BBC Luân Ðôn, VOA Hoa Thịnh Ðốn, cho tới các hãng thông tấn AP,UPI, AFP cũng như các hãng truyền hình CBS,NBC, ABC.. tất cả đều không có được cái nhìn trung thực, vô tư về cuộc chiến VN vừa qua.



    Năm 1971 Mỹ bắt đầu cuộc triệt thoái khỏi VN. Ðể được thêm một nhiệm kỳ tổng thống, Nixon và Kissinger lại tìm đủ mọi cách, đẩy QLVNCH vào tử địa tại vùng rừng núi hiểm trở của Hạ Lào, đày đọa thân xác của người lính trận suốt 45 ngày đêm không ngừng nghỉ, dưới mưa bom đạn pháo, đã khiến cho hằng ngàn mạng người lá rụng, trước những thứ vũ khí tối tân của Nga-Tàu đã viện trợ cho VC.



    Nhưng dầu bị đẩy tới một chiến trường xa lạ, vùng căn cứ địa kiên cố lâu đời của Bắc Việt, tài liệu mật cuộc hành quân lại được báo trước cho Hà Nội, nên giặc đã giăng sẵn thiên la địa võng bằng đủ mọi thứ khí giới tối tân nhất lúc đó, để tận diệt QLVNCH. Tuy vậy, những đơn vị Dù, TQLC, BĐQ, Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh và SĐ1BB, đã anh dũng chiến đấu đến giờ phút cuối cùng, tới lúc đã đạt được mục đích phá hủy gần như toàn diện những kho tàng, căn cứ của Bắc Việt tại Hạ Lào, mới rút quân về nước.



    Nỗi bi thiết tận cùng của người lính Nam VN không có bút mực nào có thể diễn tả cho hết được. Ðó là sự chết chóc, banh thây mất xác tại chiến trường, còn có thêm sự hận nhục, khi bị báo chí truyền hình Tây Phương và Mỹ, dựng đứng và ngụy tạo những hình ảnh xuyên tạc tồi tệ của người lính VNCH, trên báo chí và truyền hình. Nhiều thảm kịch của “thân phận người lính VNCH” tại mặt trận quá phũ phàng, đã làm kinh hoàng hậu phương, ngoại trừ “những trái tim thú vật” đang núp lén đâu đó để chực đâm hùa. Suốt 45 ngày đêm tại chiến trường Hạ Lào, hầu hết các đơn vị QLVNCH phải chiến đấu trong đơn độc, không yểm trợ, tải thương, tiếp tế.. nhưng đã chiến đấu tới phút cuối cùng bị giặc tràn ngập giết chết hay tự sát. Ðó là căn cứ hỏa lực 31 của Lữ đoàn 3 Nhảy dù, nơi Ðại Uý Nguyễn Văn Ðương, Pháo đội trưởng thuộc TÐ3PB Dù, đã dùng khẩu đại bác cuối cùng trực xạ vào xe tăng Bắc Việt, rồi tự vẫn. Ðó là những người lính của Tiểu đoàn 21, 39 Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.. chiến đấu tới nỗi, đã phải lật xác bạn thù để tìm súng đạn tiếp tục chiến đấu. Ðây cũng là lần đầu tiên trong cuộc chiến VN, tử thi của người lính đành bỏ lại với núi rừng, khi những người còn sống sót bắt buộc phải triệt thoái lui quân. Chiến đấu đến nỗi quân số 432 người của Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 1, SÐ1BB chết hết các cấp chỉ huy sau 11 ngày tử chiến tại căn cư Lolo. Ðến khi may mắn được máy bay Mỹ cứu về Khe Sanh, lúc đó chỉ còn 63 người, cấp bậc cao nhất là Trung sĩ. Ai cũng đều mang thương tích trầm trọng, mặt mày hốc hác vì không ngủ thiếu ăn, quần áo đẫm đầy máu đất, không nón, không giầy, không vũ khí.. Vậy mà họ đâu có được yên ổn, vì bọn nhà báo Tây Phương và Mỹ đã ùa tới chụp hình, rồi ghi vào đó “Ðây là lính VNCH hèn nhát bỏ chạy, không chịu chiến đấu, được máy bay Mỹ cứu về”.Với quân đội Mỹ, bọn nhà báo cũng không tha, cả lũ diều hâu nằm chực tại Khe Sanh hay Lao Bảo, rình rập những phi hành đoàn trực thăng bị thương tích từ mặt trận trở về, chụp hình, quay phim, lên báo để bêu xấu. Cũng may còn có hai ký giả John Saar (Anh) và Okamura (Nhật), đã theo các đơn vị QLVNCH tại Hạ Lào, còn chút lương tâm và sự công bằng tối thiểu của người làm báo, nên đã ghi lại những sự thật tàn nhẫn và phủ phàng thảm tuyệt của người lính trận miền Nam, từ người bị trọng thương cho tới các xác chết bất động.



    Hai cảnh đời trái ngược, không ai còn bút mực nào để vẽ, viết hay nói lên cho trọn vẹn trong lúc tại Khe Sanh, Quảng Trị, Huế, Ðà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn.. máy bay trực thăng đủ loại của Không quân Mỹ-Việt, lên xuống không ngừng, để tải thương binh và tử thi của lính, từ mặt trận về. Xác chết nào cũng đã sình thối, được gói ghém vội vã trong các bao tải hay poncho, để lộ đôi chân không bết đầy bùn đất. Thương vong quá nhiều, nên tất cả các Quân và Dân Y Viện đầy nghẹt, khiến không đủ giường để chữa trị, vì vậy nhiều thương binh phải nằm trên băng ca dọc theo hành lang. Phố phường, làng xóm cả nước như òa chết trong tiếng khóc của những gia đình có con cái, thân thuộc.. ra đi không trở về. Cảnh tang tóc càng thêm đứt ruột, qua những chiếc khăn tang trắng còn thơm mùi vải, vừa được chít trên những mái đầu xanh của các cô nhi quả phụ.



    Trong lúc đó, cũng tại những địa danh đẵm đầy máu lệ Huế, Ðà Nẵng, Sài Gòn.. có nhiều người đang biểu tình, nhìn từng khuôn mặt, dù có tóc hay không, nam và nữ, ai nấy đều no tròn trắng mập, chứng tỏ họ đã sống rất là đầy đủ, sung sướng, hạnh phúc, giữa xã hội Miền Nam máu lửa ngập tràn, dân đen đói cơm thiếu áo, nhất là vợ con lính nheo nhóc với lương tháng, không bằng đĩ điếm me Mẽo sau một trận cười. Những nguời này xuất hiện giữa đám đông, không phải để cùng chia sớt phần nào nỗi đau bất hạnh của thân phận lính. Họ cũng không tới để tố cáo tội ác diệt chủng và xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt. Tóm lại họ tụ tập biểu tình để tố cáo Chính phủ đã tổ chức gian lận bầu cử, để Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương đắc cử Tổng Thống. Dữ dội hơn là cảnh phục kích ám sát Mỹ, đốt xe cộ, cơ sở ngoại quốc. Tất cả cũng chỉ với mục đích: “Tạo thêm nguyên cớ, để phong trào phản chiến đang lên cao nhất tại Mỹ, bắt chính phủ rút hết quân về nước”. Có vậy, Dương Văn Minh mới được làm Tổng Thống, để ra lệnh đầu hàng. Ngày 29-3-1972, ngay lúc Bắc Việt mở màn cuộc tổng tấn công VNCH trong mùa hè đỏ lửa, thì cũng là thời gian đạo quân báo chí ngoại quốc, từ bốn phương trời kéo tới Nam VN để chờ tin QLVNCH bị CS Bắc Việt đánh bại. Số trên, đông tới 600 người, tập trung tại Sài Gòn, Huế và Ðà Nẵng, ngự trong các khách sạn sang trọng Continental và Caravelle (SG), Hương Giang (Huế). Chứng kiến cảnh lúc nhúc của bọn phóng viên nhà báo này, Bourgine chủ bút tờ Valeur Actuelles (Pháp), đã trào phúng ví von, gọi đó là “lũ kên kên người”, đang chờ hút máu và rỉa thịt xác chết VN. Là một ký giả chiến trường, từng nhảy xuống lòng chảo Ðiện Biên Phủ trước năm 1954, sau đó đã lăn lộn nhiều năm khắp bốn vùng chiến thuật. Tại Mặt Trận An Lộc, Bourgine đã viết gởi về cho tòa soạn tại Ba Lê, một bài phê bình như sau “những bài viết của các ký giả ngoại quốc đặc biệt là Mỹ, đang mặc sức tung hoành tại Nam VN, đã nói lên cái tư cách của những con chó” người “ăn xác chết và bầy kên kên rình rập kiếm tử thi lính VNCH”..Nhưng không may mắn cho đoàn âm binh, vì sau đó Cộng Sản Bắc Việt đã đại bại tại các Mặt Trận Quảng Trị, Kon Tum, Bình Ðịnh, An Lộc.. nên chúng đã tự động giải tán, số lớn về nước do chẳng còn đề tài gì hấp dẫn để viết về VN, ngoài sự đại bại của Bắc Việt.



    Một phóng viên chiến trường khác là Mermez, đã có mặt tại VN ngay từ khi mở màn cuộc đại chiến “Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972”. Ông đã theo các đơn vị QLVNCH vào Kon Tum, An Lộc và nhiều tiền đồn hẻo lánh của Nghĩa Quân tại Vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tại Sài Gòn, ông sống một mình trong xóm nhỏ của người dân lao động nghèo nàn. Ông viết “Người lính VNCH gan dạ và liều lĩnh tới mức ai cũng phải sợ, nhất là lính Nghĩa Quân và Cán Bộ Bình Ðịnh Xây Dựng Nông Thôn”. Họ đâu có coi VC ra gì. Riêng dân chúng Miền Nam, hầu hết đều thù ghét Cộng Sản ra mặt, cũng vì chúng, mà người dân nông thôn phải tan nhà nát cửa.Riêng ký giả Bernard Ulmann của tờ Observateur, tuy chỉ mới tới VN lần đầu nhưng sau khi thăm làng quê An Tánh của Nguyễn Thị Bình tại Kiến Hòa. Ông đã viết trên báo xác nhận rằng Miền Nam VN nhất lại Vùng 4 Chiến thuật, nhiều nơi kể cả Bến Tre, dân chúng sống trong cảnh thanh bình. Ðặc biệt hầu hét đều thù ghét VC.



    Bi thảm quá, trong khi tại các mặt trận lớn đang rực lửa bom, nhất là An Lộc suốt 80 ngày, đồng bào và QLVNCH bị Cộng Sản Bắc Việt vây hãm, dưới trời mưa pháo, có ngày lên tới 7500 trái, đã làm cho 2500 dân lính chết, nhiều ngàn người khác bị thương nặng. Tại Quảng Trị, Kon Tum, Bình Ðịnh.. đâu đâu cũng tràn ngập xác người lánh nạn, nhất là trên đoạn đường từ Hải Lăng về Mỹ Chánh, khiến cho sau này các sử gia đã gọi đó “Ðại lộ kinh hoàng”. Ngày 9-5-1972, sau khi Quảng Trị bị thất thủ 5 ngày, Chính phủ VNCH ban hành lệnh “Tổ Quốc Lâm Nguy” ra lệnh Thiết Quân Luật trên toàn quốc. Ngày 28-6-1972, Lưỡng Viện Quốc Hội ban hành Luật Ủy Quyền, cho phép Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được toàn quyền trong lúc đất nước có chiến tranh.



    Ðây là một việc rất bình thường ở đâu cũng có. Nước Mỹ cũng đã từng nhiều lần ban hành chính sách “quân dịch” cho tới năm 1973 mới bãi bỏ. Vậy mà tại VNCH lúc đó, lại có một số người biểu tình chống đối, xuống đường bãi công... trong khi quân Bắc Việt sắp vào tới Sài Gòn, vì Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH lúc đó, thật sự đã tung hết các lực lượng Tổng Trừ Bị như Sư Ðoàn Dù, SĐ.TQLC, Biệt Kích Dù, Biệt Ðộng Quân, thậm chí phải tăng phái cả SÐ21BB và một phần của SÐ9BB.. vào các mặt trận.. Góp phần trong bữa tiệc máu của Dân-Lính Miền Nam, là miệng lưỡi lắc léo, ngòi bút bẻ cong, trái tim thú vật.. của bọn người tự xưng là yêu nước nhưng thực chất chỉ là đám người vô ý thức, đang góp mặt trên các tờ báo, làm tay sai và công cụ tuyên truyền của QTCS gồm tờ Ðiện Tín,Tin Ðiện, Tia Sáng, Thần Chung, Ðối Diện..



    Vì sự sống còn của đất nước và dân tộc, hơn nữa không thể để cho bọn hoạt đầu chính trị, đám văn nô nằm vùng, lợi dụng sự lâm nguy của chính phủ, để đâm sau lưng hằng triệu người Lính, đang xả thân nơi chiến trường. Bởi vậy Tổng Thống Thiệu và Chính Phủ, đã bó buộc phải ban hành Sắc Lệnh 007 ngày 4-8-1972, coi như một đạo luật báo chí thời chiến tranh. Ðặc điểm của luật trên là bắt báo tư nhân phải ký quỹ 20 triệu, còn bao đảng phải chỉ phải đóng một nửa.Ngoài ra siết chặt hệ thống kiểm duyệt báo chí, bắt và truy tố những ai vi phạm nền an ninh Quốc Gia, đưa ra Tòa Án Mặt Trận xét xử.



    Sáng ngày 10-10-1974, tại Sài Gòn có chừng 300 người, tự xưng là “ký giả đi ăn mày”. Cầm đầu có Vũ Hạnh, Sơn Nam, Kiên Giang Hà Huy Hà.. cùng cặp kè với Hồ Ngọc Nhuận, Lý Chánh Trung, Ngô Công Ðức.. đòi bãi bỏ sắc lệnh 007 báo chí và bắt Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức, để lập chính phủ mới “hòa hợp hòa giài hòa bình”. Ăn ké trong chiến dịch trên, còn có 100 nhà báo ngoại quốc, được dịp quay phim chụp ảnh, từ những căn phòng sang trọng tại khách sạn Caravelle.. để tiếp tục bán đứng VNCH.



    Sau ngày mất nước, nhờ báo chí VC ca tụng, dân đen dưới xóm, mới biết vụ “ký giả đi ăn mày dỏm” được Bắc Việt dàn dựng, để cho những tên trí thức phản tặc, trong số này không ít lính tham dự, có dịp lập công với đảng, trong sứ mệnh “đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào”.Còn Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch bù nhìn của Mặt Trận Ma GPMN trong chuyến thăm viếng Mạc Tư Khoa vào tháng 5-1975, đã hãnh diện tuyên bố “Ðánh chiếm được Miền Nam VN, là công lớn của báo chí và phóng viên ngoại quốc, trong đó có Hoa Kỳ”. Nhà báo Allan Brownfield, qua tác phẩm “How Media Bias Distorts Our View of the World” đã khẳng định rằng, chính báo chí Tây Phương trong đó có Hoa Kỳ, vì mù quáng đã giúp cho Mao Trạch Ðông và Fidel Castro, đạt được chiến thắng mau lẹ tại Trung Hoa lục địa và Cu Ba. Chính hậu chứng trên, đã làm cho người Mỹ lạc lối trong cuộc chiến VN, vì bị báo chí tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh là người yêu nước và cuộc chiến tại Nam VN là nội chiến, chứ không phải bị Bắc Việt xâm lăng. Tóm lại chính hệ thống truyền thông Mỹ, đã bị điệp viên CS cùng với các nhóm phản chiến làm mù mắt, nên đã phổ biến những nguồn tin hoàn toàn sai sự thật. Một trong những bằng chứng điển hình là trận Tết Mậu Thân (1968), theo Trương Như Tảng cho biết, VC hoàn toàn bị thảm bại nhưng nhờ báo chi Mỹ phản tuyên truyền, nên trở thành chiến thắng huy hoàng. Trái lại các sử gia đã ghi chép một cách trung thực rằng Cộng sản Hà Nội, đã thụt lùi về quân sự, sau thảm bại nặng nề trên khắp chiến trường. Theo Arnaud de Borchgrave, một biên tập viên kỳ cựu của tờ Newsweek và chủ bút tờ The Washington Times, qua kinh nghiệm làm báo, cũng đã kết luận rằng “chính sự thông tin chống Mỹ và đầu óc phản chiến của Tây Phương, đã giúp Cộng Sản Bắc Việt toàn thắng tại VN. Riêng nhà báo Pháp Jean Lacouture, một kẻ sùng bái Hồ Chí Minh và VC như thần thánh nhưng đã tỉnh ngộ sau năm 1975”, viết: Từ 1960-1969, chính báo chí Tây Phương và Mỹ đã tuyên truyền, khiến dư luận thế giới, kể cả các nước tự do, đều tin là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là tổ chức chính trị độc lập của Nam VN chống lại chính quyền Sài Gòn. Tệ nhất là tôi đã biết rõ bộ mặt thật của CS Hà Nội nhưng đã cố tình giấu giếm mọi người. Tình trạng này cũng đã xảy ra với các đồng nghiệp Mỹ phản chiến của Tờ The New York Times như Anthony Lewis, Harrison Salisbury, Tom Wicker.. Trong cuốn phim “Ha Noi Hilton” do Hollywood sản xuất, ngoài những hình ảnh thật về cảnh hành hạ tra tấn dã man của Bắc Việt đối với tù binh Mỹ, còn ghi nhận một sự kiện lịch sử. Ðó là việc CS đã chế giễu Hoa Kỳ “Chúng tôi không thắng tại chiến trường nhưng nhờ truyền thông Mỹ đã giúp, nên đạt được thành quả cuối cùng tại Hoa Thịnh Ðốn”. Lê Duẩn trong ngày Sài Gòn thất thủ, đã gửi lời cám ơn đoàn quân ký giả và đảng CS Hoa Kỳ, đã giúp Bắc Việt chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lăng VN.



    Cũng vì vậy mà ngày nay trong giòng lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ, đã có thêm một trang đặc biệt để đời mà chắc ai cũng phải nhớ. Ðó là lần đầu tiên Mỹ thua trận, không phải do kẻ thù gây ra, mà chính giới truyền thông của nước mình, đã đâm sau lưng người lính tận tuyệt.. Nhưng nhức nhối hơn, có lẽ là bài viết của một cựu chiến binh Mỹ, đăng trên tờ Los Angeles Times ngày 27-4-1980 “Khi tháo chạy khỏi Nam VN, chẳng những chúng ta đã mang tiếng thua trận, phản bội đồng minh, mà còn đánh mất hết linh hồn của Mỹ Quốc”.



    2- Truyền Thông Tây Phương Và Hoa Kỳ Sau Cuộc Chiến VN, Vẫn Xuyên Tạc Sự Thật:



    Trước sự sụp đổ nhanh chóng và vô lý của Nam VN không phải tại chiến trường, mà ngay ở các thành phố lớn Ba Lê, Hoa Thịnh Ðốn, New York, Luân Ðôn, La Mã, Huế-Ðà Nẵng và Sài Gòn, khiến cho nhiều trí thức ngoại quốc, đã phẫn nộ và bày tỏ thái độ khinh miệt, đối với một số người trong cũng như ngoài nước, một thời lợi dụng tự do, dân chủ và nghề nghiệp, để bẻ cong ngòi bút, xuyên tạc sự thật, phỉ báng đồng bào và quân đội Nam VN với mục đích đầu độc dư luận thế giới, giúp Bắc Việt cưỡng chiếm VNCH. Ðề tài quen thuộc, được một số báo chí Hoa Kỳ và Tây Phương viết lách, đem lên truyền thanh truyền hình, đó là người lính VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu nên bị mất tự do và bị người Mỹ khinh miệt nên bỏ rơi không thèm giúp.



    Hai câu hỏi trên cách đây vài chục năm được bịa chuyện là có, nhưng bây giờ sự thật đã xác nhận “KHÔNG”. Hoa Kỳ khi tới chiến đấu tại Nam VN, có đủ phương tiện tinh thần cũng như vật chất, vẫn nhiều lần bị thương vong, bại nhục., vẫn không thiếu những binh sĩ đào ngũ, bỏ chạy khi trận địa hỗn loạn, vẫn có tham nhũng và chính cựu TT. Bill Clinton, vì hèn nhát nên đã trốn quân dịch pháp định. QLVNCH chỉ mới được thành lập, là một quân đội nghèo nhất trên thế giới, bị chiến đấu trong một cuộc chiến không có giới hạn chiến trường, hậu phương, bạn địch. Thế nhưng những người lính nghèo đó, mà lương năm cộng với tiền tử tuất, phế tật, không bằng một cuốc rượu của những ca ve, me Mỹ.. vậy mà họ vẫn một đời đem máu đào xương trắng, phụng sự chính nghĩa, bảo vệ màu cờ, sắc áo và từng sinh mạng của người dân, kể cả những tên ký sinh vô loại ở hậu phương, cũng như tất đất của quê hương.



    QLVNCH là sinh mạng của muôn người, nên khi thiếu vắng hay không còn họ, mạng người Nam VN lá rụng, đã gục ngã tại Mậu Thân Huế-Sài Gòn, trên các đại lộ kinh hoàng quốc lộ 1, Kontum, An Lộc mùa hè đổ máu và sau rốt là cùng nhau chết tập thể vào ngày 30-4-1975. Như sử gia Edward S.Creasy viết trong tác phẩm nổi tiếng “Fifteen Decisive Battle Of The World” năm 1851 “Tầm quan trọng của một cuộc chiến, là những gì ta có hôm nay, đối với người thắng cũng như kẻ bại”.Thật vậy, những gì đã xảy ra tại Nam VN, sau 30 năm bị cộng sản cưỡng chiếm, đã đủ trả lời về tấn thảm kịch của VN, mà lần nữa Robert S.McNamara, cựu bộ trưởng QP. Thời TT Kenedy, đã giải thích một chiều, trong hồi ký của mình “In Retrospect-The Tragedy and Lesson of VN”.



    Nhưng không phải tất cả người Mỹ đều mù quáng và tin tưởng vào truyền thông báo chí lúc đó. Chính những giờ phút cuối cùng, nhìn cảnh đời bi thảm của phận lính bọt bèo Nam VN trên màn ảnh, tờ The New York Times Service, đã thay thế người nhược tiểu, giận dữ tố cáo chính quyền Mỹ là hèn nhát, bỏ đồng minh tháo chạy về nước trước sự tấn công của VC. Họ cũng nêu đích danh Henry Kissinger là kẻ bán đứng VNCH cho VC khi bắt ép họ ký vào bản hiệp ước giả mạo 1973, sau đó tàn nhẫn cúp viện trợ, phủi tay đứng nhìn miền Nam sụp đổ, dù đã cam kết trước là sẽ can thiệp nếu Bắc Việt phản bội.



    Không có gì tồn tại với thời gian, trừ chân lý. Vì vậy những câu chuyện hề của Henry Winston, chủ tịch đảng cộng sản Mỹ, đem diễn tại Hà Nội vào tháng 5-1975, hay lời tuyên bố vung vít của Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch bù nhìn của Mặt Trận Ma giải phóng, tại Mạc Tư Khoa, ngay khi Sài Gòn thất thủ: “cám ơn báo chí và ký giả Tây Phương, đã góp phần lớn cho chiến thắng của Hà Nội, trong số này đáng kể là người Mỹ”.



    Ðây là tất cả sự thật, vừa được một cựu chiến binh Không Quân Hoa Kỳ là Harry H.Noyes, thay mặt những người lính VNCH, qua tác phẩm “Heroic Allies” nói lên vinh quang và sự hãnh diện của một quân lực, từ lâu đã bị bọn trí thức vô liêm sỉ, tước đoạt một cách hèn hạ, bất nhơn và vô nhân đạo. Sự tuyên truyền lố lăng và cuồng ngạo của Hà Nội cùng những mặt mo bưng bợ, làm cho thiên hạ năm châu chán ghét, sau khi cái thây ma VNCH chỉ còn trơ lại bộ xương gầy đét, không còn gì để cho Huỳnh Liên, Ngô Bá Thành, Huỳnh Tấn Mẫm, Chân Tín và một số quạ đen, diều hâu, bu tới rỉa rói như lúc chợ còn đông khứa.



    Trong tài liệu đặc biệt “How Media Bias Distorts Our View of the World” của ký giả Allan Brownnfiels, nói rằng vì hầu hết giới truyền thông Tây Phương, quá mù quáng, ca tụng một chiều về Mao Trạch Ðông và Fidel Castro, trong lúc thẳng tay sỉ nhục bôi lọ Tưởng Giới Thạch và chính phủ CuBa lúc đó, tuy vô tình nhưng đã làm cho cộng sản tại hai nước này chiến thắng mau lẹ. Bài học của lịch sử sau đó lại tái diễn ở Nam VN. Lần này do chính những thành phần được ưu tiên trang trọng trong xã hội lúc đó, là những công tử tiểu thư đài các của giới địa chủ, địa hào, thương gia, chủ vựa nước mắm, nhờ cha mẹ tổ tiên theo thực dân Pháp bốc lột đồng bào, nên có tiền, có thế, cho con trai, con gái qua Pháp, Mỹ du học thành luật sư, bác sỹ, giáo sư, những thành phần mà Hồ Chí Minh và đảng VC ở miền Bắc, chém giết và khinh bỉ tận tuyệt, sau khi được làm chủ nửa miền đất nước vào năm 1954. Nhờ cái mặt nạ trí thức và sự tự do quá trớn của Nam VN, những thành phần ăn chén đá bát này, luôn bẻ cong ngòi bút, làm cho thế giới tự do lầm lạc, nghĩ rằng giặc Cộng tại Nam VN là những người bình thường, yêu nước, nên nổi dậy chống lại sự độc tài tham nhũng của chế độ. Bài học “lỡ ngu làm hỏng cuộc đời” của Hồ Thu, Dương Quỳnh Hoa, Trương Như Tảng.. không biết tới bao giờ mới làm cho Nguyễn Thị Bình mở mắt để ăn năn sám hối, tạ tội với quốc dân, chuộc lại cái thanh danh của ông ngoại mình là Phan Chu Trinh, bị muộn phiền, vì có hai cháu ngoan “theo bác, phản quốc”. Tóm lại nhờ những trí thức này, mà VC nằm vùng sau ngày tập kết 1954, VC chính thống từ Miền Bắc xâm nhập, kể cả Tàu Cộng, Liên Xô, Cu Ba, Ðông Âu.. trong bộ đội Hà Nội đang chiến đấu tại Nam VN, đều không có dính líu tới Hồ và cộng sản đệ tam quốc tế. Sự độc ác trên, nhờ tuyên truyền ngay ở miền Nam và các mạng lưới quốc tế, khiến cho cuộc chiến chống xâm lăng cộng sản, của người Việt quốc gia Nam VN, mất đi cái ý nghĩa chính thống, làm cho Hoa Kỳ cũng gặp nhiều khó khăn khi sang chiến đấu bảo vệ tiền đồn chống cộng ở Ðông Nam Á. Rốt cục, cả Mỹ lẫn Việt đều đại bại trước mặt trận thông tin ca ngợi VC, của báo chí, truyền thông ngoại quốc và ngay trong nước.



    Từ năm 1965, Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân dồn dập vào Nam VN, cũng là thời kỳ lửa máu dồn dập ở hậu phương. Ðây cũng là thời kỳ ăn nên làm ra, của những thông tín viên, ký giả ngoại quốc, qua những bài tường thuật, có kèm hình ảnh, không phải để phổ biến những sự thật, mà chỉ để tuyên truyền một chiều, nhằm bôi lọ những quân đội, đang trực diện với cộng sản Bắc Việt, trên chiến trường Nam VN. Có thể nói bài phóng sự chiến trường đầu tiên, của thông tín viên đài CBS tên Morley Safer, viết về cuộc hành quân của một đơn vị TQLC Mỹ, tại một làng xôi đậu, đã trở thành những mẫu thông tin “ăn khách”, theo đơn đặt hàng của thị trường Mỹ và Tây Phương lúc đó. Cũng nhờ báo chí phản tuyên truyền, Tết Mậu Thân 1968, VC chết thảm khắp nơi, đã thành chiến thắng, chiếm được ngay cả Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn. Tàn nhẫn và đáng khinh tởm nhất, là báo chí Tây Phương, trong suốt cuộc chiến Nam VN, đã không hề một chữ tường thuật những hành vi khủng bố, giết người tàn bạo của VC trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế, năm 1972 và những ngày di tản máu lửa hận hờn.



    Chiến cuộc VN đã kết thúc hơn 37 năm, nhưng nhiều người Phi Châu và các nước thứ ba như Bhutan, Panama.. làm như đang ngủ ở trên mây, vì họ mù tịt chuyện VN, do thiếu tin tức, kể cả câu chuyện VC làm xếp chúa cả nước sau ngày 30-4-1975 cũng không hề biết tới.



    Nhưng giới truyền thông Tây Phương và Hoa Kỳ thì khác, bởi vì chuyện gì có liên quan tới CS Việt Nam, họ hầu như đều biết hết. Thế nhưng tới nay, nhiều người vẫn chứng nào tật nấy, làm như không biết gì hết về các bí mật của cuộc chiến VN, đã bị phanh phui, lột trần sự thật. Mấy chục năm qua, cứ đến ngày 30-4-1975 là dịp tốt để các đài truyền hình Mỹ, tung ra các loại phim tuyên truyền xuyên tạc cuộc chiến VN, được gọi là “tài liệu lịch sử”, đã làm cho 58.000 quân Mỹ và hơn 3 triệu người Ðông Dương thiệt mạng. Bỉ ổi nhất trong cái, được gọi là loại phim tài liệu lịch sử này. Ðó là bộ “Vietnam, a televised history” với nội dung hoàn toàn đề cao sự chiến thắng của CS Hà Nội, đồng thời tố cáo tội ác của Quân Lực Hoa Kỳ và VNCH trong chiến tranh. Phim được một cán bộ trai Bắc Việt thuyết minh, qua chữ nghĩa dựa theo tư tưởng Mao It. Nhưng đòn tuyên truyền này, đến nay đã lỗi thời, dù năm nào cũng được nhai lại, chỉ làm cho mọi người thêm ứa gan, vì ai cũng đã biết hết sự thật.



    Hùa theo ăn có xác chết VN là những thành phần làm báo Mỹ từng liên hệ với cuộc chiến vừa qua. Mới đây tại hải ngoại, người Việt tị nạn đã lột mặt nạ ký giả Alan Dawson từng làm trưởng phòng hảng thông tấn UPI tại Sài Gòn trước 1975, vì đương sự đã viết sai nhiều sự thật trong hồi ký “55 days: The Fall of South VN”. Ðó là việc dựng câu chuyện trong trận Xuân Lộc vào tháng 4/1975, nói là trực thăng tới chở các đơn vị đang tham chiến về Sài Gòn, trong số này có cả Tư lệnh SĐ18BB là Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo. Lại viết là có 600 quân của Trung Ðoàn 43/SĐ18BB do Ðại Tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy, tình nguyện ở lại Xuân Lộc. Trong khi đó, sự thật không có bất cứ một đơn vị nào được máy bay chở, kể cả Tướng Ðảo, vì cuộc lui quân bằng đường bộ. Chỉ có TĐ2/43/SĐ18BB của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế bị kẹt lại vì đóng quân quá xa tuyến lui quân, nhưng cuối cùng ông cũng đưa được đơn vị về Long Thành, tuy bị thiệt hại rất nặng.



    Chưa hết, Alan Dawson còn dựng đứng câu chuyện, để vu khống Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh QÐ4 đã ra lệnh thủ tiêu Trung Tá Tỉnh trưởng Kiên Giang là Vương Văn Trổ, vì tội đào ngũ. Thật sự Trung Tá Trổ đã ở lại chiến đấu với đồng đội tới ngày 30-4-1975, sau đó đi tù 13 năm tận ngoài Bắc và mới sang Hoa Kỳ bằng diện HO năm 1993 tạm cư tại Houston, TX.



    Những hành động bỉ ổi này, tới nay đâu có kết thúc. Bởi vậy, vào ngày 9-5-2005, tạp chí Newsweek Mỹ, tờ báo chuyên môn nói láo ăn tiền, nên chỉ mới dựa vào một nguồn tin không chắc chắn, để ngụy tạo một bài viết giựt gân cỡ “trận đánh cuối cùng không có đại bàng”, trong đó tố cáo một viên chức Mỹ, làm việc tại trại giam tù khủng bố ở Guantanamo Bay, đã quăng kinh Koran vào bồn cầu tiêu rồi dội nước. Việc loan tin vô trách nhiệm trên, đã gây nên sự phẫn nộ tại các nước theo đạo Hồi, sau đó biến thành bạo lực chống Mỹ, làm cho hàng chục người chết và nhiều người khác bị thương.



    Trước sự kiện ghê tởm này, chẳng những đã gây chết người, mà còn làm tổn thương tới danh dự của Hoa Kỳ trước công luận thế giới. Thế nhưng tòa báo chỉ xin lỗi suông mà không chịu hủy bỏ bài viết bịa đặt trên, cho dù cả Ngoại trưởng Condoleezza Rice lẫn Phát Ngôn Viên Phủ Tổng Thống, đều lên tiếng cảnh báo sự kiện quốc tế nghiêm trọng này. Cuối cùng đến ngày 23-5-2005, trước tình trạng hỗn loạn chống Mỹ càng bộc phát, mạng người tiếp tục gãy đổ, chừng đó chủ bút tờ Newsweek mới chịu hủy bỏ bài báo đã đăng. Không thấy ai nói gì về trách nhiệm của sự loan tin bừa bãi này.



    Tiếp tục biểu dương tự do ngôn luận, tự do phát biểu, tự do viết báo, nên ngày 20-9-2004, đài truyền hình CBS Mỹ, lại đem chuyện quân dịch của đương kim Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush, ra trước công luận để bôi bác xuyên tạc. Trước hành động quá đáng này, cơ quan hành pháp Mỹ, đã lên tiếng phản đối, vì cho rằng tài liệu vừa phổ biến, thiếu trung thực. Thấy bị lố, nên đài trên phải công bố về sự sai lầm và hứa sẽ điều tra nội vụ. Ðây không phải là lần đầu tiên đã xảy ra sự cố của nền báo chí và truyền thông Hoa Kỳ, chuyên môn loan tin thất thiệt, đã bắt nguồn từ thời chiến tranh VN, rồi trở thành thói quen tật xấu, hầu như không ai từ bỏ được.



    Những vụ tai tiếng trên, đã khiến cho hệ thống truyền thanh truyền hình và báo chí Mỹ càng ngày càng xuống dốc, với hằng hằng những tin tức thất thiệt, qua các đài CNN, NBC, CBS cũng như các báo The New Work Times, USA Today, The Washington Post, The New Repuclic, The Los Angeles Times.. làm cho người dân không biết đâu mà mò.



    Qua sự lộng hành càng ngày càng quá đáng của giới truyền thông, làm nhớ lại Peter Arnett, một phóng viên người Tân Tây Lan, lấy vợ VN có thân nhân tập kết, nên đầu óc đã bị nhuộm đỏ. Vì vậy khi làm việc cho hãng thông tấn AP, hắn chuyên môn viết bài ca tụng bộ đội Bắc Việt, công khai xuyên tạc quân lực Mỹ và VNCH, bằng những phóng sự chiến trường tuyên truyền một chiều. Arnett là tác nhân đã biến chiến thắng của quân Mỹ tại trận Núi Ấp Bia, thành đại bại. Lại còn đánh lận con đen, đảo lộn sự thật, khi diễn đạt danh từ “đồi Hambuger” do những quân Dù Mỹ tham dự trận đánh đó đặt ra, vì quá thương tâm, khi chứng kiến hơn 700 xác bộ đội Bắc Việt bị bom lửa biến thành đống thịt đỏ, bị đồng bọn bỏ lại chiến trường, lúc chém vè.



    Trong cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991, Arnett là phóng viên của hãng truyền hình CNN, là người ngoại quốc duy nhất được Sadam Hussein cho ở lại Bagdad để tường thuật tin tức thất thiệt, giúp Iraq chống Mỹ, khiến Tòa Bạch Ốc nổi giận muốn đưa hắn ra tòa án quân sự. Năm 2001, Peter Arnett mới bị đuổi ra khỏi CNN vì loan tin thất thiệt, trong cuộc bầu cử TT giữa G.Bush và Gore.



    Tóm lại con người không ai có thể sống ngoài lịch sử, cho dù đó chỉ là những trang sử đẵm đầy máu lệ. Bởi vậy bất cứ ai cũng đều hãnh diện về những trang sử vẻ vang của dân tộc mình. Ðó mới chính là lý tưởng và sự chiến thắng sau cùng của cuộc chiến VN vừa qua





    Xóm Cồn Hạ Uy Di
    4-2017
    Mường Giang

    https://hon-viet.co.uk/MuongGiang_SuLoa ... ietNam.htm
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: tưởng niệm 50 năm người Việt mất miền Nam Tự Do

Bài viết bởi Hoàng Vân »







  • Năm mươi năm nhìn lại
              
    Người Việt còn sống hay đã chết (1975-2025)

    _______________________
    Người Lính Phan Nhật Nam





    Dẫn Nhập



    Mỗi người, mỗi tập thể, mỗi dân tộc có một đời sống, lần chết với định mệnh riêng. Dân Tộc Việt cảm nhận, thấy ra sự huyền nhiệm kia qua con Số Ba: Lễ thờ cúng với phẩm vật Tam Sanh; nhà Ba Gian; Ba Miền Bắc, Trung, Nam; Cờ Quẻ Ly; Cờ Vàng Ba Sọc... Người Việt thấu hiểu cốt lõi cấu trúc siêu hình, lẽ huyền vi kia qua Nỗi Đau và Cơn Thống Khổ vô lường với thân phận của mỗi người trên quê hương điêu linh qua những Tháng 3 của năm 1972, 1975.. Người Việt hải ngoại vừa qua tháng 3, đang ở tháng 4-2025, những thời điểm khiến nhớ lần vỡ trận Ban Mê Thuột, 10/3/1975 khởi đầu bi kịch nước mất nhà tan năm mươi lăm ngày sau, 30 Tháng 4, 1975. Nay 50 năm sau 1975, thời gian đủ để nhìn lại sự việc của quá khứ từ đó nhận ra những tất yếu của lịch sử. Những điều tất yếu mà Dân Tộc Việt buộc phải nhận lãnh từ phận nghiệp điêu linh. Những thế hệ người Việt sinh nơi Miền Nam, lớn lên sau 1975 phần đông trên đất Mỹ có thể ngạc nhiên với thắc mắc: Tại sao một Miền Nam có đủ tất cả những ưu thế so với Miền Bắc, cụ thể thuộc về phe dân chủ-tự do được Mỹ và Tây Âu yểm trợ, giúp sức. Vậy thì từ đâu, vì sao, VNCH chỉ một sớm một chiều sụp vỡ một cách nhanh chóng sau 55 ngày do Bắc Việt cộng sản tấn công? Tại sao?






    Một.



    Tháng 3 mở đầu mùa Hè khốc liệt 1972; và Tháng Ba sau ký kết Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình 27/1/1973 mà hai tháng sau 27 Tháng 3, 1973 là hết thời hạn thi hành giai đoạn 4 Bên, và Miền Nam bắt đầu nhận chịu số phận khốn đốn khi Tỉnh Phước Long bị cộng sản lấn chiếm, tháng 12 năm 1974, cùng lúc viện trợ Mỹ bị cắt giảm toàn diện, Hạm Đội 7 quay mũi về Trung Đông. Qua đầu Xuân tháng Ba 1975, thêm một lần Miền Nam phải giáp mặt với câu hỏi... Bao giờ Cộng Sản tấn công? Cộng Sản sẽ tấn công ở đâu? Không ai ở Sài Gòn có câu trả lời chính xác.



    Đầu năm 1975, phía Cộng Sản Bắc Việt đã nối được con đường từ Cao Nguyên Trung Phần xuống đồng bằng Quảng Nam, Quảng Ngãi, lộ rõ ý định cắt đôi Miền Nam theo trục Quốc Lộ 19 nối Bình Định - Pleiku như đã thực hiện trong chiến tranh 1946-1954. Và đây là tiền đề của cuộc Tổng Công Kích 1975 mà Hà Nội đã quyết thực hiện bước cuối cùng để tiến chiếm Miền Nam? Bây giờ thì ai cũng thấy ra như thế, nhưng lúc ấy, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn, cụ thể với Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh Quân Đoàn II ở Pleiku lúc ấy không thể có quyết đoán cụ thể nào khi từ năm 1972, phần cực Bắc của Cao Nguyên Trung Phần, cứ điểm Đắk-tô, Quận Lỵ Tân Cảnh, dãy Căn Cứ 5, 6, các trại lực lượng đặc biệt đã thuộc về vùng kiểm soát của binh đội Miền Bắc…



    Đầu năm 1975, Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng Cộng Sản, Bộ Tổng Quân Ủy Bộ đội Bắc Việt chuẩn bị tấn công Miền Nam sau khi rút kinh nghiệm thất bại từ Mậu Thân 1968, do đã quá phân tán lực lượng trên mục tiêu trải dài qua 40 tỉnh, thành phố Miền Nam. Cụ thể trong Tổng Công Kích Xuân - Hè 1972, cuộc tấn công đã không hoàn tất mục tiêu chiến lược là đánh sụp toàn bộ hệ thống quân sự-chính trị-hành chánh của VNCH, để yểm trợ chính trị cho Hội Nghị Ba Lê đang ở thời điểm quyết định trước khi ký kết (27 Tháng 1, 1973). Quan trọng hơn hết, vào Tháng Ba năm 1975, người Mỹ đã thực sự rút chân ra khỏi Việt Nam..



    Cũng không phải đợi năm 1975 mà từ những năm 1972, và cũng chẳng phải là chuyên viên quân sự-chính trị chiến lược cao cấp, chỉ người có lưu tâm đến thời cuộc, chiến cuộc cũng có thể nhìn thấy tình hình quân sự nguy ngập của Miền Nam. Từ sau trận chiến Mùa Hè 1972 một phần cực Bắc của Cao Nguyên Trung Phần, gồm cứ điểm Dakto, Quận Lỵ Tân Cảnh, dãy Căn Cứ 5, 6, các trại Lực Lượng Đặc Biệt đã thuộc về vùng kiểm soát của Cộng Sản Miền Bắc. Có nghĩa Bắc Quân đã nối được con đường từ Cao Nguyên Trung Phần xuống đồng bằng Quảng Nam, Quảng Ngãi, lộ rõ ý định cắt đôi Miền Nam theo trục Quốc Lộ 19 Bình Định - Pleiku như một lần thực hiện trong chiến tranh 1946-1954. Nhưng không chỉ có thế, năm 1975 Bộ Chính Trị, Bộ Tổng Quân Ủy đảng Cộng Sản Việt Nam đã điều quân dưới Nghị Quyết chiến lược số 21 (Nghị quyết nầy được Trung Ương Cục Miền Nam phổ biến với bí số 12). "Cuộc tấn công toàn diện ở Miền Nam Việt Nam phải được thực hiện đồng loạt và tràn ngập, liên kết ba mũi, chủ động cả ba mặt trên khắp ba vùng..."Ba mũi là tấn công quân sự, tấn công chính trị, tấn công binh vận. Ba mặt, diện quân sự, diện chính trị, diện ngoại giao. Ba vùng gồm vùng cộng sản đã kiểm soát được; vùng tranh chấp (xôi đậu); và vùng Việt Nam Cộng Hòa. Với chỉ đạo chiến lược nầy, Cộng Sản Bắc Việt lập kế hoạch tấn công lật đổ chế độ VNCH sau khi đã rút kinh nghiệm từ Mậu Thân 1968, và trận chiến Xuân-Hè 1972, để năm 1975 có đủ ưu thế vượt trội về quân sự cùng an toàn tuyệt đối về chính trị. Chúng ta cùng đi tiếp lần sụp vỡ Miền Nam bắt đầu từ tháng Ba, 1975.





    Hai.



    Mặt Trận B3 là bí danh quân sự phía Cộng Sản Bắc Việt chỉ Vùng Cao Nguyên Trung Phần của VNCH, trong ngày 10/3, Sư Đoàn F10 dưới quyền chỉ huy của các tướng Bắc Việt Hoàng Minh Thảo, Vũ Lăng đồng loạt tấn công Ban Mê Thuột. Cuộc tấn công được tăng cường Sư Đoàn 320 là đơn vị cơ hữu đã có mặt từ trước nơi vùng B3 nầy, thêm Sư Đoàn 316 từ Miền Bắc mới xâm nhập, và Sư Đoàn 341 tổng trừ bị. Sư Đoàn 316 rời Miền Bắc vào Nam từ 1974 để chuẩn bị chiến trường cho Tướng Văn Tiến Dũng, nhân vật số 2 của quân đội Miền Bắc. Tướng Dũng đã vào Nam từ ngày 5 tháng 2/1975 bằng một chiếc máy bay Antonov 24 nhưng mãi đến Tháng 4, CIA Mỹ mới khám phá ra. Lực lượng Cộng Sản đánh Ban Mê Thuột gồm khoảng 25.000 người có pháo binh, chiến xa phối hợp yểm trợ.



    Đối lại tại thị xã Ban Mê Thuột, phía VNCH chỉ có khoảng 1200 quân gồm lính hậu cứ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, lực lượng Địa Phương Quân Tiểu Khu Đắk-Lắc, và Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân. Tức tỷ lệ 20 đánh 1. Thế nên từ 2 giờ sáng ngày 10 tháng Ba, giờ mở lệnh tấn công (mà Tướng Dũng ước tính mặt trận Ban Mê Thuột sẽ chấm dứt sau một tuần) chỉ đến 5 giờ 30 chiều cùng ngày 10, thị xã Ban Mê Thuột phần lớn đã bị quân Bắc Việt chiếm đóng, cho dù Biệt Động Quân, Sư Đoàn 23 Bộ Binh vẫn tiếp tục chiến đấu.



    Với tỷ lệ 20 đánh 1 có pháo binh, chiến xa yểm trợ (chỉ không có phi cơ) phía Cộng Sản làm sao không đánh thắng? Chưa hết, năm 1975 Hà Nội đánh chiếm Miền Nam với hai lợi điểm, phải nói hai ưu thế quyết định: Sự bất ngờ tình báo được bảo đảm toàn hảo và cái ô chính trị tuyệt đối an toàn. Khi CS quyết định tiến chiếm thị xã Ban Mê Thuột cực Nam của vùng Cao Nguyên Trung Phần, nơi tương đối bình an của Vùng II, mục tiêu không hề được tính đến trong suốt mười lăm năm chiến tranh khởi đi từ 1960. Thế nên từ 2 giờ sáng ngày 10 tháng Ba, giờ mở lệnh tấn công (mà Tướng Dũng ước tính mặt trận Ban Mê Thuột sẽ chấm dứt sau một tuần) chỉ đến 5 giờ 30 chiều cùng ngày 10, thị xã Ban Mê Thuột phần lớn đã bị quân Bắc Việt chiếm đóng, cho dù Biệt Động Quân, Sư Đoàn 23 Bộ Binh vẫn tiếp tục chiến đấu. Tướng Dũng cứ tưởng như là giấc mơ.



    Tướng Dũng cũng không thể nào tin khi được báo cáo: Quân Đoàn II tháo chạy! Bởi ông không biết trong cuộc họp Ngày 14 Tháng Ba, 1975 ở Cam Ranh, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã không nói rõ ràng về ý niệm điều quân: "Nếu có thể thực hiện triệt thoái khỏi Pleiku, Kontum thì cũng có thể chiếm lại Ban Mê Thuột?!" Những người cầm đầu cộng sản ở Hà Nội cũng không nghe tới tính toán: "Ngày trước với một tỷ rưỡi đồng Đô-la thì giữ được bốn vùng, bốn quân khu. Nay với 700 triệu thì chỉ giữ được hai Quân Khu III và IV”. Họp xong, ba ông tổng thống, thủ tướng, và tổng tham mưu trưởng, ba tướng lãnh quân đội trở lại Sài Gòn. Tướng Tư Lệnh Phạm Văn Phú bay về Nha Trang. Để lại trách nhiệm chỉ huy toàn bộ cuộc di tản cho tướng lãnh được vinh thăng cuối cùng của Quân lực VNCH, Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất.



    Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, quốc gia tên gọi "Việt Nam Cộng Hòa" bắt đầu "chết" từ điểm tắt thở nầy. Đây là cuộc hành quân di tản toàn Vùng Cao Nguyên, một Quân Khu II trên một đoạn đường 228 cây số mà 10 năm nay không được xử dụng (Trên bản đồ quân sự đoạn Hậu Bổn (Cheo Reo) đến Sơn Hòa chỉ màu XANH, chỉ đọan đường KHÔNG XỬ DỤNG ĐƯỢC). Nguy hai hơn nữa, cuộc hành quân rút lui KHÔNG CÓ LỆNH HÀNH QUÂN điều hành, thống nhất chỉ huy! Cũng bởi Tướng Phạm Duy Tất, chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân Quân Khu II chỉ thực sự chỉ huy những đơn vị Biệt Động Quân thuộc quyền. Đêm 16 tháng 3/75, các đơn vị quân đội âm thầm bất ngờ triệt thoái được êm xuôi… Nhưng đến sáng hôm sau, dân chúng hay được, hoang mang, hốt hoảng vội vã ùa chạy theo đoàn quân với bất cứ phương tiện di chuyển nào kể cả chạy bộ. Quân Cộng Sản bắt đầu đuổi theo, nã pháo thẳng vào đoàn di tản.



    Trời Cao Nguyên buổi tàn xuân gây gây rét vào sáng, càng về trưa nắng cao và nóng khô khan, đường bụi mù tung đỏ bám vào thành xe, nòng pháo, khí cụ, tóc và da mặt người, vạn tròng mắt đỏ rực. Những tròng mắt mệt mỏi lo âu, tuyệt vọng. Phía sau lưng, thị xã Pleiku bốc lửa ngọn, khói đen đặc ngật ngật bay lên cao hơn đỉnh núi Hàm Rồng. Lửa lóng lánh ánh sáng kinh dị trong mắt những người lính Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân, thành phần hậu vệ đoàn di tản.



    Pleiku, thị trấn thủ phủ của miền Cao Nguyên luôn chĩu lặng sương mù nay oằn thân vật vã trong màu lửa địa ngục. Lửa từ đống kim loại, khí giới, từ những kho quân nhu, quân cụ soi loang loáng chập chờn những đường dốc hun hút lẫn khuất dưới tàn thông. Tất cả đồng nhóm lên màu đỏ chói. Màu của máu. Đoàn di tản qua được một ngày bình an. Bình an sống sót qua đói, khát, nhục nhằn và lo âu. Lính gục trên mũi súng, đàn bà, con trẻ nằm rũ lên hành lý, thành xe, đất cát. Được sống, được ngủ là hạnh phúc quá lớn hở Tri? Còn biết kêu vào đâu? Với ai?



    Bình an của ngày đầu tiên này không kéo dài được lâu, bởi phía cộng sản trong ngày 16 đã tìm ra đáp số cho câu hỏi: Quân Đoàn II đang tính gì sau chấn thương ngày 10 tháng Ba tại điểm bất ngờ Ban Mê Thuột? Qua máy dò tìm làn sóng, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3, tổng quát hơn chiến dịch tấn chiếm miền Nam, chiến dịch mang bí số 275, choáng người vì thắng lợi quá mau chóng, quá lớn, Quân Đoàn II đang tháo chạy! Dần dần họ khám phá vài phi cơ C47, C130 xuất phát từ phi trưng Cù Hanh (Pleiku) đi Nha Trang không có lượt bay về. Viên chuẩn úy nằm vùng trong Sư Đoàn 2 Không Quân, người đã điều chỉnh pháo binh chính xác từ bao ngày qua, người quan sát các phi xuất di tản đã đến hồi lộ mặt không ngần ngại - Anh ta báo cáo bằng bạch văn! Sự kiện đã trút gánh nặng âu lo "phía cộng hòa có thể điều quân tái chiếm" ra khỏi đầu Văn Tiến Dũng.



    Tướng Dũng mắng thẳng và đe dọa Kim Tuấn, viên tư lệnh Sư Đoàn 320: "Nếu đồng chí để vuột mất đoàn di tản thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm". Bởi, Kim Tuấn đã từng cam kết: "Một đơn vị cơ giới với chiến xa, pháo binh nặng không thể nào đi qua đường 7B được..." Quả thật, ông Nguyễn Văn Thiệu ít ra cũng lừa được một người cũng như trong mười điều sai ông cũng có một điều đúng với câu nói: "Đừng nghe những gì cộng sản nói...". Sư Đoàn 320 được lệnh băng rừng truy kích đoàn di tản và Sư Đoàn 968 trên đường bôn tập từ Lào về Pleiku cũng được lệnh đâm ngang từ ngã ba Thanh An, chuyển hướng hành quân dài theo Tỉnh Lộ 7 về đồng bằng.



    Văn Tiến Dũng thở phào nhẹ nhõm... Vậy là không có phản công tái chiếm như sau lần bỏ Khe Sanh (1968), chịu mất Quảng Trị 1972, lần bốn mươi thành phố Miền Nam bị tấn công Tết Mậu Thân. Lần này quân Cộng Hòa, "bọn Ngụy Quân" đã bị bẻ gãy ngay xương sống. Ngày 16 Tháng 3, một Chủ Nhật điêu linh tan nát dọc con đường đỏ sẫm đất núi và máu rây. Đoàn di tản bị chận ở phía Đông Củng Sơn, bị cắt rời ở quận Phú Túc, bị đuổi đập từ tây quận lỵ Phú Bổn. Xe tăng cán ngang lên GMC, xe GMC hất xe đò xuống vực thẳm, cũng hất luôn những xe jeep của thành phần thuộc các đơn vị yểm trợ, chuyên môn của Quân Đoàn, Tiểu Khu Pleiku, cán qua những chiếc xe Dodge4 của Địa Phương Quân chất đầy người già, trẻ em tan nát. Chiếc Vespa của một gia đình chạy lông lốc, xiêu vẹo trên sườn đồi, đứa con, người vợ rơi tơi tả, người chồng, người cha rơi cuối cùng với chiếc xe vỡ toang trên mỏm đá!



    Súng nổ... 105, 155 pháo binh, XM72 của phía cộng hòa; 130 ly, 122 ly, B40, B41 Cộng Sản tất cả cùng hòa vào nhau thành một luồng hỗn âm tan tác làm rung rinh sắc núi mờ đục ánh nắng. Mặt Trận bị chìm khuất trong khói xám. Có xác bà già ngồi dựa bờ đất lên bề đường, người khô quắp, không vết thương. Dấu hiệu sự chết chỉ được nhận biết nơi ổ mắt, mũi, miệng... Đám kiến rừng bò lúc nhúc quay quắt đánh hơi. Ba đứa trẻ mắt lạc thần ngồi nhìn đoạn đường hỗn loạn không cảm giác. Bé trai nhỏ nhất gục đầu trên gối chị ngủ lay lắt. Có tiếng bắn đi của sơn pháo thật gần. Sư Đoàn 320 Điện Biên bắn thẳng xuống đoàn di tản không sai trật một viên đạn. Lính còn rõ phản ứng trú ẩn, chống cự, người dân chỉ biết đưa mắt nhìn lên nơi đặt súng, nơi có những tiếng nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang. Xác người tung lên theo đất bay bay. Cái chết không đơn giản, mau chóng bởi súng đạn. Chết còn bị nhận chìm từ từ trong lòng chiến xa khi chiếc xe tăng chúc đầu xuống đầu cầu nổi bắc qua sông Ba. Chiếc cầu bắc vội mỏng manh không thể nào chứa nỗi sức nặng vạn con người, vạn chiếc xe... Chiếc tăng M48 như khối đá ấn mạnh xuống lòng chén nứt vỡ. Trong lòng xe có tiếng hét nghẹn, trên pháo tháp có đầu người ngoi ngóp. Người đạp lên đầu, lưng, vai người để được thở, được sống thêm vài giây ngắn. Chiếc xe chìm xuống im lặng, kéo theo, mang theo, đè xuống rất nhiều thây xác. Xích sắt điên cuồng đào xoáy giòng sông máu sẫm làm quẫy lên, tung tóe những tay, chân kẹp dính đâu dưới lườn xe.



    Cuộc di tản lớn quá! Quá lớn nên không ai còn sức đâu nghĩ đến lần rút lui của Liên Đoàn 32 Biệt Động Quân và lực lượng địa phương thuộc Tiểu Khu Bình Long trấn đóng tại An Lộc, cũng trong ngày 1 Tháng 3. An Lộc, cách Sài Gòn một trăm cây số đường chim bay. Chiến tích lớn của năm 1972, nơi Lữ Đoàn I Nhảy dù, Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Liên Đoàn 81 Biệt Kích đã đẩy lui những trận cường tập của các trung đoàn thuộc ba công trường 5, 7, 9 (sư đoàn bộ binh thuộc quyền chỉ huy của bộ tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam có cán bộ người Bắc làm khung cơ sở) và trung đoàn Thiết Giáp T54 phối hợp tăng cường, được yểm trợ trực tiếp bởi pháo 130 ly hạng nặng. Chiến tích An Lộc được mua bởi giá máu của ngàn con người ấy, bởi niềm tin, ý chí chiến đấu của Miền Nam được thể hiện nay chỉ là một tiền đồn thụ động nằm trong tầm tác xạ của một dàn pháo cối đặt dầy xung quanh. Tồi tệ hơn nữa, cửa ngõ phía Nam của An Lộc, khu đồn điền Xa Cam bị quân Cộng Sản đóng chốt. Đường về Chơn Thành, phải qua tử huyệt này. Và khi An Lộc với Liên Đoàn 32 Biệt Động, Chơn Thành với Liên Đoàn 31 bị nhổ đi, bị xé lẻ ra Phan Rang, đến Tây Ninh, lui về tận Hố Nai thì từ căn cứ Lai Khê với Bình Dương - Sài Gòn, đoạn đường quá ngắn chỉ cần một ngày di chuyển với đôi chân. Nhưng bởi vết thương của Tỉnh Lộ 7 kéo dài theo hơn hai trăm cây số đường núi. Vụ triệt thoái An Lộc, Chơn Thành đành phải quên. Phải quên, dẫu cơn hấp hối từ, của trái tim sắp gần kề. Sài Gòn - Lai Khê đâu khoảng ba-mươi cây số, nửa giờ xe hơi.



    Cuối cùng, đoàn di tản về đến Tuy Hòa ngày 25 Tháng Ba do Tiểu Đoàn 58 Biệt Động Quân dẫn đầu. Trăm ngàn dân theo lính chạy loạn từ Kontum, Pleiku nay còn khoảng sáu chục ngàn người nơi trại tạm cư Đèo Rù Rì. 100.000 trừ đi 60.000 vậy đã chết bao nhiêu? Không ai có thể tính chính xác được số dân thiệt mạng. Người chỉ biết và đau với trường hợp từng người thân, của mỗi gia đình, của chính thịt da mình. Trên chiếc trực thăng từ phi trường Đông Tác (Tuy Hòa) về Nha Trang, viên Thiếu tá ngồi ôm đứa con nhỏ, gục đầu nín thinh khi đứa bé chợt nhớ... Bà nội đâu hở ba? Trong đêm khuya nơi trại tạm cư Đèo Rù Rì, nghe những lời than vãn rời rạc lẫn tiếng khóc nấc nghẹn ghìm ghìm. Bãi biển Nha Trang từng khối người ngồi chập choạng dưới trăng khuya. Nha Trang cũng mất vào tay quân Cộng Sản vài ngày sau, 30/3/1975 dẫu đơn vị chính quy Cộng Sản chưa kịp vào đến thành phố. Nếu kể thêm bi thảm của Huế, Đà Nẵng ở phía Bắc thì đã mất một nửa quê hương Miền Nam chưa hết một Tháng Ba!





    Ba.



    Lần sụp vỡ Vùng II gây nên phản ứng giây chuyền vô cùng nguy hại đối với Vùng I với thành phố lớn thứ hai sau Sàigòn, Thành Phố Đà Nẵng, bản doanh Quân Đoàn I/Quân Khu I VNCH. Đà Nẵng cũng là nơi Mỹ đổ quân, cũng một ngày Tháng 3, 1965 nhằm mở rộng chiến cuộc trên toàn Miền Nam, khắp vùng Đông Dương. Quân Khu I gồm Quảng Trị, Huế, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Tín, Quảng Ngãi. Vùng đất lửa đối đầu với miền Bắc không khoan nhượng qua những thời điểm đẫm máu… Mậu Thân 1968, Hạ Lào 1971, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Gần đây, còn nguyên dấu vết hung tàn ngọn lửa từ đầu hè 1972. Huế quả thật đã nhiều phen nhận sâu sự chết. Nhưng Huế vẫn sống. Huế luôn vượt sống. Thật ra Huế-Thừa Thiên vẫn sống được bởi sức nâng, nguồn bảo vệ từ một người anh em khốn khổ, người anh em chung cấu tạo đặc thù mà phải tinh tế lắm mới nhận ra âm sắc tiếng nói khác nhau qua con sông không đầy một trăm thước, sông Mỹ Chánh ngăn ranh Quảng Trị - Thừa Thiên, với hai thị xã đúng chiều dài bảy mươi cây số: Huế và Quảng Trị. Vùng đất dựa núi và nằm cạnh biển với cửa Tùng, cửa Việt qua Thạch Hãn, sông Bồ, Mỹ Chánh, Hương Giang. Hai nơi chốn khốn khổ, tội nghiệp nầy đã nâng nhau qua chiến tranh. Quảng Trị đã chịu phần hủy hoại đến đỗi bàng hoàng. Thành phố đã trở nên đống gạch vỡ vụn sau cơn địa chấn Xuân-Hè 1972. Tuy nhiên trong trận chiến 1972, Tướng Ngô Quang Trưởng đã có đủ quân số gồm các Sư Đoàn 1, 2, 3 Bộ Binh và hai sư đoàn tổng trừ bị Nhảy Dù và TQLC để trấn giữ vùng lãnh thổ trách nhiệm, nên đã phản công thành công tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Nhưng bây giờ, 1975 không phải là năm 1972 khốc liệt ấy nữa, người Mỹ đã rút đi cùng bộ máy chỉ huy, tiếp vận tác chiến khổng lồ kể từ 27 tháng 1, 1973 theo điều khoản ấn định bởi Hiệp Định Ba Lê. Và vấn đề xử dụng lại không quân với B52 dội bom cường tập như đã thực hiện suốt mùa Hè 1972 không thể nào tái lập với Tổng Thống Ford đã bị quốc hội Đảng Dân Chủ kiểm soát, khóa tay. Chính phủ Mỹ hoàn toàn tê liệt sau vụ án chính trị Watergate.



    Ngày 18 Tháng Ba, sau khi gặp Tướng Phú ở Nha Trang, ông Thủ Tướng "khôn ngoan nhất" miền Nam, Trần Thiện Khiêm bay ra Đà Nẵng gặp tướng Trưởng để truyền lại lịnh của Tổng Thống: "Sẽ rút sư đoàn Dù; còn sư đoàn TQLC sẽ trả lại cho Sàigòn sau đó". Tướng Trưởng không có gì tăng cường. Không còn gì hết. Tướng Trưỏng cố gắng lần cuối. Ông bay về Sàigòn ngày 19 Tháng Ba, họp cùng với các ông Thiệu, Khiêm, Viên và cả phó Tổng Thống Hương. Ông cam đoan có thể giữ được Huế, Đà Nẵng, nếu đừng lấy đi những lữ đoàn Dù, TQLC còn lại. Ông Thiệu tỏ vẻ ngần ngại trước quyết định sẽ rút một phần nào về Vùng I. Để cụ thể thêm cho ý niệm trên, ông chuẩn bị đọc một bài diễn văn với ngôn từ mạnh mẽ tỏ rõ quyết tâm bảo vệ Huế. Nhưng khi Tướng Trưởng vừa trở lại Đà Nẵng, ông nhận tin Huế đang bị đánh mạnh. Ông gọi về Tướng Viên; ông Viên đẩy qua ông Thiệu. Tướng Trưởng đành phải nói thật: "...Tổng Thống nên hoãn lại bài diễn văn. Huế không thể giữ được!" Thật ra ông Thiệu hiểu rõ hơn ai hết khả năng cố thủ của Huế. Ông Tổng Thống muốn giành viên đạn ân huệ cho chính tự tay Tướng Trưởng.



    Cùng Ngày 18 tháng 3, phó Đại Sứ Lehmann gởi điện văn về Bạch Cung, nhờ chuyển bản tường trình đến Đại Sứ Martin đang chữa bệnh ở Bắc Carolina. Lehmann báo tin về khả năng phía VNCH có thể bỏ Huế với dấu hiệu chiến xa, thiết vận xa đang rút về Nam và TQLC bỏ Quảng Trị. Ông Đại Sứ biết được - Đã đến lúc chính ông, không ai khác, phải chịu mối "khổ nhục kế" của quốc gia ông nơi xa. Tóm lại, thế trận được đặt trên tuyến phương trình kỳ cục: "Người Mỹ không biết ông Thiệu đang tính toán những gì. Sàigòn thì hoàn toàn mù tịt về những gì đang xảy ra ở Hà Nội". Nên không biết được rằng Hà Nội đã chấp thuận đề nghị của Văn Tiến Dũng (sau thành công quá lớn ở mặt trận Tây Nguyên) - Đánh rộng ra toàn miền Nam, khai triển thuận lợi từ Ban Mê Thuột và Pleiku.



    Từ Ban Mê Thuột, sư đoàn F10 tiếp tục hành quân về đồng bằng theo Quốc Lộ 21, sư đoàn 320 cắt miền Trung tại Tuy Hòa, đâm xuống Nha Trang. Nha Trang sẽ là điểm hẹn của hai sư đoàn này trước khi tiến về Nam, hướng Sàigòn. Tại Vùng I, Tướng Trưởng bị tấn công một lúc từ cả hai hướng bắc và nam. Trên nguyên tắc, sau tháng 10/1973, khi Hà Nội, cục R phát lệnh đánh trả và ông Thiệu ra chỉ thị "Tái tổ chức, phối trí" từ hạ tầng cơ sở hành chánh và quân đội... Lính Nghĩa Quân được đôn thành Địa Phương Quân, lính địa phương tập trung lại thành tiểu đoàn chủ lực và các sư đoàn diện địa phải cơ động trong khu, vùng trách nhiệm. Nhưng đấy chỉ là lý thuyết và hoàn toàn là lý thuyết. Người lính Địa Phương Quân của Tiểu Khu Quảng Trị, Thừa Thiên không hề được chuẩn bị, trang bị để đương cự lại những sư đoàn chính quy Bắc Việt, thế nên khi Lữ Đoàn 369 TQLC, cùng với Liên Đoàn Biệt Động Quân vừa rút khỏi Quảng Trị, dân chúng ùa đi theo. Tỉnh Trưởng Quảng Trị khuyên công chức cho gia đình di tản. Tất cả tràn về Huế, và Huế sau dấu ấn kinh hoàng Mậu Thân 1968, và nỗi khiếp sợ từ 1972... Theo luồng cuồng nộ bi thảm này chạy về Nam, vượt đèo Hải Vân.



    Ngày 25 Tháng Ba, sáu giờ, Tướng Trưởng ra lệnh bỏ Huế. Lính TQLC, Biệt Động, Sư Đoàn I đồng tập trung tại Vĩnh Lộc, nơi cửa biển Thuận An, đông-nam Huế. Đề đốc Chung Tấn Cang gởi một số vận tải hạm ra cửa Thuận An đón đoàn quân cùng đám dân chạy loạn. Nhưng muốn đến bờ biển, lên tàu lớn, đoàn người di tản phải qua phà Thuận An, và tại đây lại một lần tái lập cảnh tượng địa ngục nơi Sông Ba, Tuy Hòa mười ngày trước. Thật sự chỉ đúng một tuần. Điều đau đớn nầy xảy ra như một chuyện tất nhiên.



    Trong tất cả các hình thái hành quân, rút lui là một loại chiến thuật khó khăn nhất, bởi lẽ tự nó vốn đã mang yếu tố thất bại, thua cuộc. Không thể có một giải đáp tốt cho vấn đề đã vốn xấu, thế nên không hề có được một cuộc rút lui thắng lợi. Nếu có được một cuộc rút lui tương đối thành công của quân sử thế giới thì đấy là lần di tản 350.000 lính đồng minh từ mõm Dunkerque qua Anh năm 1940. Nhưng Dunkerque là một cứ điểm phòng thủ với yếu tố thuận lợi do hệ thống sông, lạch chia cắt với đất liền và bao vây kín trước mặt. Cuộc triệt thoái với hơn nghìn tàu đủ loại của Anh và Pháp điều động, chỉ huy bởi những sĩ quan, tướng lĩnh kỳ tài của hai đạo quân có truyền thống và tổ chức cao. Hai quân đội kia còn có một thời hạn tương đối đủ (từ giữa tháng 5 đến tháng 4 tháng 6, 1941) và một hậu phương nước Anh kiên định vững vàng.



    Tháng 3, 1975 ở Đà Nẵng, Việt Nam, Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ có một vài giờ, một hai ngày và những lệnh, phản lệnh từ Dinh Độc-Lập, Bộ Tổng Tham Mưu. Những người lính, dân tại cù lao Vinh Lộc, tại cửa Thuận An lại càng khốn khổ hơn. Bắt đầu là vô tổ chức, tiếp tới hỗn loạn và sau cùng là... bạo loạn. Công Binh không thể bắc phà qua sông, tàu lớn không vào sát bờ, người di tản trong cơn khiếp đảm khi cái chết dâng đầy, tràn ngập phải vùng vẫy tuyệt vọng từng giây phút ngắn tranh sống. Tiền sát viên pháo binh cộng sản điều chỉnh mục tiêu không phí một quả đạn. Đoàn người trần trụi trên giòng sông dưới đạn pháo. Sông là nhánh chảy ra phá Tam Giang, giòng nước đã soi bóng lửa thu ở rất lâu. Từ năm 1946, năm vỡ mặt trận Việt Minh chống Pháp. Năm nay, 1975, người Cộng Sản bắn vào ai? Chống ai?



    Cảnh tượng bi thảm không phải chỉ bày ra nơi cù lao Vinh Lộc, cửa Thuận An. Một trăm cây số đường từ Huế vào Đà Nẵng dầy đặc xe và người chạy loạn. Lúc đầu người chạy loạn xử dụng xe vận tải, xe du lịch, GMC... Những xe động cơ bốn bánh, hai bánh. Tất cả đều chất cứng đồ đạc và lăn từng thước, từng chục thước đường. Quân Cộng Sản không hề chậm chạp, lập ngay những chốt chặn ở những vùng núi đèo Phú Gia, Phước Tượng, ở Cầu Hai, Nong, Truồi... Bất cứ nơi nào thuận lợi cho việc phục kích. Lính Sư Đoàn 1 Bộ Binh, đơn vị đã từng giữ vững những cứ điểm Bastogne, Checkmate... Đơn vị đã nhảy xuống Tchépone Hạ Lào, những tiểu đoàn bộ binh hàng đầu của quân lực Miền Nam, Đại Đội Trinh Sát lừng lẫy Hắc Báo, tất cả đều bị bó tay bởi đám thân nhân, gia đình binh sĩ cồng kềnh rối rắm, tan nát, âu lo. Người lính nào chiến đấu được với con trên lưng, vợ đang cơn nguy khốn?! Thế nhưng đoàn người vẫn lần từng bước đưng về Nam, hướng đèo Hải Vân. Và khi xe hơi bị tắt nghẽn trong vũng lửa, chiếc Honda đổ nhào xuống hố vực, người bế con lên tay, đầu gục xuống cất chân trần từng bước…



    Đèo Hải Vân đây rồi! Những người đã chạy từ Quảng Trị, Mỹ Chánh, Phong Điền, An Lỗ chen chân lên đường đèo ngầy ngật khói đen dày. Vẫn còn những đơn vị lính Cộng Hòa giữ vững tay súng, Tiểu Đoàn 8 TQLC nhận bàn giao từ Lữ Đoàn I Nhảy Dù, trấn giữ đèo Hải Vân, ngăn quân Cộng Sản ở mặt Bắc Quảng Nam-Đà Nẵng. Nhưng một tiểu đoàn trong chiến tranh buổi tàn cuộc có là bao? Làm được gì! Năm 1944, quân đội đồng minh muốn giữ vững Bastogne giữa vòng vây quân Đức phải có một đơn vị sư đoàn - Sư Đoàn 82 Nhảy Dù Mỹ do viên sĩ quan ngoại hạng, Tướng Maxwell Taylor chỉ huy. Tiểu đoàn 8 TQLC nay đối diện với ba sư đoàn bộ binh nặng, một lực lượng gồm các trung đoàn, tiểu đoàn Cộng Sản địa phương, một vùng đất dài từ chân đèo, xã Lăng Cô cuối tỉnh Thừa Thiên ra đến sông Thạch Hãn, Quảng Trị, vùng đất bị lực lượng Cộng Sản lấn chiếm từ Mùa Hè 1972. Và xa hơn là Cửa Việt, Gio Linh, sông Bến Hải, vùng "giải phóng" đã được thâu đoạt, củng cố từ 1972, 1973. Cuối cùng, xa hơn nữa, rộng hơn nữa - Một Miền Bắc xã hội chủ nghĩa "hậu phương lớn" của "tiền tuyến lớn Miền Nam". Nhưng không hẳn chỉ ngừng lại ở đây, tăng cường, trợ lực cho Cộng Sản Bắc Việt còn có nước Trung Hoa mênh mông, Liên Bang Xô-Viết vĩ đại, khối thành trì của phe Xã hội Chủ Nghĩa đang luôn chờ đợi, chực sẵn cánh tay kéo dài xuống Phương Nam - Giấc mộng bền bỉ dài lâu của các chủng tộc người Hoa, Mãn, Slave... Tiểu đoàn 8 TQLC/QL/VNCH không thể nào đương được như một lẽ đương nhiên.



    Người lính Miền Nam cũng vấp phải tình thế không thể nào xoay trở, bởi trên đường đèo, trước mũi súng anh chỉ thấy nhấp nhô trùng điệp vạn đầu tóc rối chạy loạn, tràng âm thanh thấp thỏm bi thương... "En'" lính cộng hòa ơi! "En" lính cộng hòa ơi!! Tiếng kêu một lần anh nghe được từ Mậu Thân, từ Mùa Hè Đỏ Lửa 72. "En" ơi... Con tui hắn chết rồi!! Tui biết làm chi bây chừ "en" ơi! Người mẹ quê thất sắc, mắt lạc thần, lật vạt áo dài, đứa con nhỏ say nắng, bầm tím, chết ngạt từ bao lâu. Người đàn bà ngồi xuống lề đưng trên đá núi, gục đầu vào xác thân nhỏ bé sâm sấp tử khí gây gây. Chẳng phải Người Lính, đến Thượng Đế chắc cũng phải bật khóc bất lực gào đau.



    Đà Nẵng không chỉ bị ép từ phía Bắc, mà cả từ phía Nam, vùng đất Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi đã bị cắt vỡ ra từng mảnh nhỏ và người dân từ những nơi này tràn về Đà Nẵng để tìm một chỗ xuôi Nam. Cuối cùng địa ngục tăng thêm cường độ nơi bến tàu, chân cầu Trịnh Minh Thế, bến cá chợ Hàn, căn cứ Hải Quân Tiên Sa. Người ta dùng lưới để móc những kiện hàng quái dị... Đám người tan tác rền rỉ khóc la khản đặc. Nhưng dẫu có bị móc đi bằng lưới hoặc giành được một chỗ trên phi cơ (dân hoặc quân sự, kể cả máy bay Mỹ), những người rời xa Đà Nẵng cũng còn thở được hơi dài... Đã thoát khỏi chết. Đã thoát khỏi Việt Cộng. Thoát khỏi một thành phố tràn ngập tiếng động từ những kho hàng bị cướp phá, người bị cướp, bị giết kêu cứu... Đám tù quân phạm từ những trại quân lao tràn ra, trả thù những năm tháng giam giữ với cách phát triển bản năng ác độc từ lâu ức chế với cách thức thú vật hung tàn.



    Cơn hấp hối của Đà Nẫng không kéo dài. Ngày 27 Tháng Ba, pháo binh cộng sản bắt đầu bắn thăm dò vào Đà Nẵng từ những vùng lân cận vừa lấn chiếm. Bộ Tư Lệnh mặt trận Bình-Trị-Thiên phối hợp với mặt trận B2, Quảng Nam-Đà Nẵng quyết định dùng sư đoàn 324 và 325C từ mạn Bắc chiếm đèo Hải Vân đổ xuống; từ hướng Nam và Tây-Nam hai sư đoàn 407 và 711 đánh lên. Chiến trận được yểm trợ bởi hai trung đoàn pháo và thiết giáp. Hỏa lực của pháo binh cộng sản tập trung vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và căn cứ Hải Quân Tiên Sa, các địa điểm thực hiện kế hoạch di tản. Nhưng thực tế không còn kế hoạch nào nữa, bởi các điểm, căn cứ đã là những vị trí hỏa tập. Đặc công Cộng Sản trà trộn vào đám đông điều chỉnh từng quả đạn nổ chính xác giữa những thân người chen chúc. Ngoài khơi Đà Nẵng một hạm đội chực sẵn gồm tàu Việt Nam Cộng Hòa, Đại Hàn, Đài Loan, Úc, Anh, Phi Luật Tân... Và lẽ tất nhiên có tàu Hải Quân và dân sự Mỹ. Nhưng bởi Mỹ là nước "cam kết" tôn trọng thực hiện Hiệp Định Paris, nên Tổng Thống Ford đã ra lệnh cho tàu Mỹ không được vào hải phận Việt Nam!



    Do thái độ “nghiêm chỉnh” của Mỹ và đồng minh, người tỵ nạn phải đội con lên đầu, cõng mẹ sau lưng lần từng bước, dò đáy biển tiến ra khơi! Thây người mắc vào gềnh đá trôi dạt sâm sấp. Qua ngày 28, bãi biển đã thành một nghĩa địa bồng bềnh xê dịch. Người sống sót rẽ thây chết đi ra phía trùng dương mờ đục khói. Khói sóng và khói đạn pháo binh, hỏa tiễn. Nhiều trường hợp xác chết biến thành cái phao để người "chưa chết" bám víu vẫy vùng, cố sống. Cố gắng sống thêm vài phút ngắn. Trong đám người tan vỡ này có Tướng Ngô Quang Trưởng. Ông bơi ra một chiếc xuồng rồi lên một tàu của Hải Quân Việt Nam do trợ giúp của một sĩ quan thủy quân lục chiến. Chiếc tàu đã biến dạng bởi binh sĩ đã ngồi tràn lên cả cột cờ, ụ súng. Trông giống như tổ kiến khổng lồ trôi dạt trên sóng biển. Tình cảnh trên những tàu dân sự ngoại quốc càng tồi tệ hơn. Gần mười ngàn người chồng chất lên nhau trên một chiếc tàu chở hàng với vài chục thủy thủ. Ngàn con người không nước uống, không thức ăn cào xé nhau dưới hầm tàu nghẹn thở hoặc trên boong sắt bốc hơi nóng dưới mặt trời đầu hè của miền Trung.



    Tàu Victoria chở người di tản ghé Cam Ranh. Người cha bế đứa con bước xuống bãi cát trắng. Cát nóng sôi lúc nhúc những đầu người cuống quýt. Không một âm động lớn, không ầm ĩ ồn ào, chỉ khẽ rít nhỏ rầm rì giữa những cánh môi khô nẻ, trắng bọt xám... Nóng quá!! Khát quá!! Chiếc tàu họ vừa rời khỏi đã là một nghĩa địa di động, nhưng khốn khổ hơn những lò thiêu người Do Thái ở Auschwitz, Birkenau, bởi hơi nóng của vỏ, sàn tàu dưới mặt trời không đủ nhiệt để đốt cháy da thịt người. Trên sàn, dưới hầm lềnh kênh những thây chết chưa đúng nghĩa... Những người ngộp thở vì bị đè, ép, dẫm lên. Người già và trẻ em chiếm phần lớn. Những sinh vật vô tội và vô hại đối với bất cứ chế độ chính trị nào, bất cứ lực lượng vũ trang nào. Các cuộc tấn công quân sự của lực lượng Cộng Sản khởi đi từ Tháng Ba đã biến những xác chết nầy nên thành chứng cớ của tội lỗi. Và họ phải chịu cơn hấp hối từ rất lâu trước khi "được chết” để đền xong mối tội. Tội đã sinh và sống nơi vùng “tạm chiếm của bọn ngụy quân, ngụy quyền” - Tội làm người nơi Nước Việt, ở Miền Nam.



    Nha Trang cùng lâm cơn hấp hối với Đà Nẵng. Người Nha Trang bị dồn ép, bị đuổi siết bởi những người chạy loạn từ Pleiku, Phú Bổn xuống; từ Tuy Hòa, Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi ùa vào... Tất cả lại chuẩn bị lên xe, hướng phía Nam, Phan Thiết, Bình Tuy... Sàigòn. Sàigòn, như kẻ phụ tình cay đắng cuối đi không thể rời bỏ. Và cảnh cũ của Bến Cá, phi trường Đà Nẵng lập lại tầng tầng bi thảm nơi Cầu Đá, phi cảng Nha Trang. Máy bay cất cánh với chân, tay người thò ra nơi khoang chứa bánh đáp! Dọc đường Số 1 những chiếc trực thăng chở khẳm chòng chành rơi vãi những, thân người tan tác theo luồng gió và cánh quạt động cơ đùa đi. Và biển Đông lại nhận thêm được những tặng phẩm khốn cùng mới mẻ... Những thây người vào ra sâm sấp theo triều sóng ngậm ngùi. Tượng Thánh Mẫu Thiên-Y từ đỉnh cao Tháp Bà đầu cầu Xóm Bóng, Nha Trang một đêm bất ngờ vô cớ rơi xuống! Hàng triệu sâu bọ từ mạch đất sâu bật tung bò ra lềnh đặc hơn cây số đường từ Cam Ranh đi Phan Rang. Đoàn người chạy loạn dẫm lên nghe nhầy nhầy, sừng sực như đạp phải thây chết. Chẳng ai để ý. Tất cả đã quen với cái chết. Con người đang chết. Sự chết toàn diện của lần tận diệt. Mùa Chúa chịu nạn giải cứu thế gian diễn ra cùng lần bức tử miền Trung. Khởi đầu buổi Đồng Tế tàn cuộc Miền Nam. Bắt đầu từ Ngày 10 Tháng Ba ở Ban Mê Thuột. Không cần đủ hết Tháng Ba.





    Bốn.



    Tháng Ba, 1975 ở Mỹ có nhiều ý kiến về Việt Nam.. Điển hình với người công dân Milliard E. Crane ở Fonda, New York trong lá thư gởi ban biên tập báo Newsweek viết nên lời thống thiết: Tinh Thần 76 đâu rồi? Hôm nay nước Mỹ đứng yên nhìn Cambodia, tiếp đến Việt Nam lần lượt rơi vào nanh vuốt bọn xâm lược.. Và như quân bài Domino dần tan rã, phải chăng lần tới sẽ là Thái Lan, rồi đến Nam Hàn, Trung Hoa Dân Quốc với Đài Loan và tiếp tục nữa chăng? Những dân tộc nầy đã và đang chiến đấu cho những lý tưởng quan yếu như chúng ta hằng chống lại đế quốc Anh. Chúng ta đốt pháo bông ăn mừng khi hỏa tiễn dày xéo tự do ở nơi bên kia thế giới được chăng? Chúng ta nên cần một Patrick Henry nung nấu giòng máu và một George Washington giữ thẳng xương sống chúng ta." Nhưng hòa bình lại không do từ những con người trên, hòa bình đến bởi Kissinger, người phải ngậm cục kê vào miệng - Giải thưởng Nobel Hòa Bình để không thể nói một lời gì khác ngoài việc phải hô hào bảo vệ cho kỳ được nền "hòa bình trong danh dự" mà ông ta đã phải xoay trở mãi từ 1968 đến tháng 1, 1973 mới ráp nối được. Hòa bình đó đã tồn tại đến những hai năm, hai tháng cho dù đôi khi lâm bịnh ngặt nghèo với vụ lấn chiếm Tống Lê Chân và Phước Long. Nếu "Hòa Bình" phải cơn hấp hối như hôm nay (3/1975) thì ắt phải do... Nguyễn Văn Thiệu "một người tuyệt vọng đến độ phát hoảng" và dù cho miền Nam có mệnh hệ nào thì "Việt Nam cũng không phải là tận cùng thế giới" và đây cũng là lỗi của Quốc Hội - Nơi đảng Dân Chủ kiểm soát Hạ lẫn Thượng viện, với Kennedy, Johnson đã đưa cuộc diện Việt Nam vào bãi lầy nên phải cậy đến khôn ngoan rất mực của ông ta mới tìm ra lối thoát. Mà việc nầy ông đã "hoàn tất một cách xuất sắc" với giải Nobel Hòa Bình cao quý!.



    Tóm lại, chỉ còn đôi lời cam kết giữa hai Tổng thống Nixon và Nguyễn Văn Thiệu! Cũng không có gì khó, sẵn vụ năm anh Cuba đột nhập vào tòa nhà Watergate của Đảng Dân Chủ. Lục túi thấy một đống đô-la vừa tiền mặt, vừa tín phiếu, và sổ ghi các điện thoại. Truy tầm một hồi thì thấy ngay xuất xứ của số tiền, các tín phiếu nấy (dù qua một hệ thống nhiều ngân hàng của Mỹ và Mễ Tây Cơ) vốn từ quỹ vận động bầu cử Tổng Thống Nixon! Chạy thế nào thoát. Hai ký giả Bernstein và Woodward của báo Washington Post vớ phải ngay một "ông nằm vùng, bí danh Deep Throat" từ đâu trong Bạch Cung. Ông nầy hàng tuần hẹn hò trên trang 20 báo Post dò hỏi cách gặp gỡ. Và nếu khẩn cấp thì gọi nhau, cho ám hiệu. Thế là, ông Nixon chửi thề như thế nào, ông John Mitchell nói cái gì, cố vấn Haldeman thở than với vợ ra làm sao... Tất cả đâu đó đã sẵn để hai ông nhà báo lựa chọn, ra tin. Dằng co một hồi đến 8 Tháng 8, 1974 thì Tổng Thống Nixon buộc phải từ chức! Ai hứa với ai gì nào? Tổng Thống kế nhiệm Gerald Ford khi đến Palm Spring, California chơi golf bị ký giả truy hỏi về tình hình Việt Nam; vừa chạy vừa cười tươi... Chiến tranh Việt Nam đã là dĩ vãng! Đến một lúc sau khi nói chuyện với doanh nhân, nhân viên chính quyền cao cấp ở San Diego ông mới nói thật... "Tình hình quả thật bí thảm và chúng ta cần một ý nghĩa mới về đoàn kết quốc gia tại thời điểm đau buồn, hỗn loạn này..." Nhưng ông cũng không quên yêu cầu quốc hội chuẩn y phần viện trợ khẩn cấp. Sự cố gắng của Tổng Thống Hoa Kỳ được hiện thực. Quân cảng Vũng Tàu, Tân cảng cầu xa lộ Sài Gòn được tiếp nhận thêm một số quân trang, quân cụ, vũ khí mới... Súng 105 đời thế chiến Thứ Hai, nón sắt, ống nhòm, và súng colt và xe GMC. Chỉ một Tháng Ba, 1975, Miền Nam mất 700 triệu Mỹ kim chiến cụ đến nỗi một viên chức Ngũ Giác Đài phải ngao ngán thốt lên: "Tốt hơn hết chúng ta nên chuyển thẳng cho Hà Nội, như thế khỏi phải bị hư hao..."



    Và khi bị chất vấn về 58.000 quân nhân Mỹ tử trận ở Việt Nam, vị tổng thống không do đấu tranh, bầu cử mà nên chức phận, đã ngậm ngùi than vãn: "Chúng ta quả thực không thực tế một chút nào vì đã quá trịnh trọng cam kết tại hội nghị khi đã chấm dứt tranh đấu ở Việt Nam". Và nếu có đôi chút thành thật họa chăng là lời thú nhận cay đắng của Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller... "Tôi e rằng một số người Việt đang dần chết... Trong khi, chúng ta vẫn tiếp tục sống..." Nói như thế kể ra cũng đủ gọi là thành tâm!



    Trong ngày đầu Tháng 4, 1975 Cựu Bộ trưởng Thông Tin Chiêu Hồi Hoàng Đức Nhã lúc ấy giữ chức vụ cố vấn riêng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã có mặt tại Tân Gia Ba theo lời mời của Thủ Tướng Lý Quang Diệu. Thủ Tướng Lý mời Cố Vấn Nhã đến để trao gởi một nguồn tin quan trọng. Ông vào thẳng vấn đề: "Đừng để mất thì giờ vô ích, tôi mời ông tới đây bởi kết thúc ở Việt Nam sắp xẩy ra, đang phải đến.” Thủ Tướng Diệu nói rõ: Phó tổng thống Mỹ Rockefeller vừa hỏi ý kiến ông cũng như những vị lãnh đạo Á Châu khác là: “Liệu chúng ta có cách gì để đưa ông Nguyễn Văn Thiệu ra đi hay không?!" Hóa ra chuyến viếng thăm không chính thức các nước Đông-Nam Á của Phó Tổng Thống Rockefeller nhân dịp viếng lễ tang Thống Chế Tưởng Giới Thạch vừa qua tại Đài Loan vào Ngày 5 Tháng 4 là để thông báo một điều quan trọng: Đã đến lúc chính phủ Mỹ cần thay người cầm quyền ở Nam Việt Nam.



    Ông Hoàng Đức Nhã liền thông báo cho Tổng Thống Thiệu nguồn tin chẳng mấy phấn khởi nầy, một phần ông cũng đã hiểu ra thực tế: Giới quân nhân, những tư lệnh các quân khu qua tình hình chiến sự đã không còn tin tưởng Tổng Thống Thiệu vốn là một tướng lãnh quân đội. Cuộc rút bỏ Tây Nguyên vào Ngày 16 Tháng Ba tiếp theo lần di tản Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang.. vào cuối tháng 3 với chuỗi thảm cảnh kinh hoàng của dân và lính vượt khỏi tất cả những dự kiến, làm tan vỡ sức chiến đấu, phá hủy quân trang cụ, vũ khí của hai Quân Khu I và II đã bày ra điều cùng cực phi lý và tàn nhẫn: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đã không kiểm soát đượcc tính hình chính trị lẫn quân sự của miền Nam. Hơn thế nữa lời thông báo của Phó Tổng Thống Rockefeller không là ý kiến riêng của người lãnh đạo ở Tòa Bạch Ốc nhưng là phản ảnh thực tế về quyết định của chính giới Mỹ đối với tình thế chung cho toàn vùng Đông-Nam Á. Đấy là Mỹ rút ra khỏi vùng nầy theo thỏa thuận với Trung Cộng từ thông cáo Thượng Hải ký năm 1972 giữa Châu Ân Lai và Nixon. TT/Thiệu làm sao không biết thì ai biết tới kết thúc nầy? Không biết chính xác lúc nào mà thôi!



    Ngày 12 Tháng 4 Nam Vang Campuchia thất thủ, tất cả bộ trưởng của nội các Long Boret chỉ trừ một người thuận di tản theo đề nghị của Toà Đại Sứ Mỹ, tất cả đồng ở lại với đất nước và đã là những nạn nhân bị hành quyết đầu tiên bởi cách hành hình man rợ của đám đao phủ Khmer Đỏ. Điển hình là vị cố vấn chính trị Sirik Matak của Tổng Thống Lon Nol đã có lá thư tuyệt mệnh gởi đến Đại Sứ Mỹ Dean John với lời lẽ khẳng quyết bi tráng như sau: "Kính gởi Ngài Đại Sứ và các Bạn... Tôi chân thành cảm ơn lá thư ngài chuyển tới với đề nghị giúp tôi phương tiện đi đến vùng tự do.. Nhưng hỡi ơi, tôi không thể bỏ đi một cách hèn hạ như thế được.. Xin ngài cứ ra đi, và tôi cầu chúc ngài cùng đất nước Hoa Kỳ có được nhiều điều hạnh phúc dưới cõi trời nầy. Nếu tôi có phải chết thì cũng chết trên đất nước mà tôi vô cùng yêu quý dẫu cho đấy là điều bất hạnh, nhưng chúng ta ai chẳng sinh ra và một lần mất đi. Tôi chỉ phạm một lỗi lầm là đã tin vào ngài và tin vào những người Bạn Mỹ." Từ tình cảnh của Campuchia hiểu ra tình thế của Miền Nam khi tình hình quân sự hoàn toàn suy sụp, và Mỹ quyết định chấm dứt sự dính líu đến VNCH!



    Ngày 8 Tháng 8, 1974, Tổng Thống Richard Nixon từ chức, Phó Tổng Thống Ford lên kế vị, vốn một Chủ tịch Hạ Viện được kế vị do hiến định nên khoán trắng vấn đề đối ngoại, an ninh quốc gia cho Cố Vấn kiêm Ngoại Trưởng Henry A. Kissinger. Số phận Việt Nam được quyết định với viện trợ kinh tế bị cắt khoảng 50% (theo đề nghị của Thượng Nghị Sĩ Kennedy), và viện trợ quân viện được xác nhận ở số 772 triệu, có thể chỉ là 500 triệu (tức cắt đến 60%). Tháng 12, 1974 tỉnh Lỵ Phước Long bị mất, Tổng Thống Ford, Ngoại Trưởng Kissinger ĐÃ không có hành động đáp ứng cụ thể nào như đã hứa hẹn, cam kết. Tổng Thống Gerald Ford lại bị trói buộc toàn diện bởi Nghị Quyết Xử Dụng Vũ Lực Chiến Tranh đã được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn từ tháng 11, 1973. Nghị quyết nầy hiện thực đạo luật cắt bỏ quỹ "Hoạt Động Tác Chiến" vốn được dùng để yểm trợ cho chiến cuộc Đông Dương trước Hiệp Định 1973. Tổng Thống Ford cố làm yên lòng Tổng Thống Thiệu bằng cách cử một phái đoàn do Thứ Trưởng Quốc Phòng Clements sang Sài Gòn; ông Thiệu chỉ định Đại Sứ Trần Kim Phuợng, Tổng Trưởng Vương Văn Bắc sang gặp Tổng Thống Ford. Tổng Thống Mỹ hứa cứu xét đến quân viện bổ sung 300 triệu để phục hồi lại Một Tỷ như hoạch định. Cần nhắc lại những số liệu để so sánh: 1/Giai đoạn 1966-1970: Mỹ tiêu 25 Tỷ Đô-la/Năm bởi có 500,000 quân Mỹ và Đồng minh đang tham chiến. 2/1970-1971: 12 Tỷ Đô-la/Năm vì đang rút quân. 3/Sau khi Mỹ rút hết quân thì: 31/Tài khoá 1973: 2,1 Tỷ; Tài khoá 1974: 1,4 Tỷ; Tài khóa năm 1975: 700 Triệu. Vậy nếu có được 300 Triệu bổ sung thì quân viện năm 1975 cũng chỉ được 1 Tỷ.



    Khi quân CS Miền Bắc khởi đầu tấn công Ban Mê Thuột trong ngày 10/3; Chủ Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm từ Hoa Thịnh Đốn trở về với tin sét đánh: “Không những không có 300 triệu quân viện bổ sung mà có thể không còn viện trợ quân sự nữa!” Như thế, 300 triệu (dự trù bổ sung) vào ngày 13 Tháng 3 năm 1975 đã trở thành “Số Không” vì Đảng Dân Chủ kiểm soát cả Hạ lẫn Thượng Viện đã bỏ phiếu với đại đa số: Chống bất cứ viện trợ nào cho Việt Nam kèm theo lời tàn nhẫn: “Viện trợ di tản thì cho, chứ một xu (viện trợ quân sự) cho Thiệu thì không.” Trong cùng lúc: “Từ 1974 qua 1975, Miền Bắc đã đưa vào Nam một số lượng quân trang cụ, vũ khí là 823.146 Tấn – Gấp 1.6” lần số lượng đã vận chuyển của 14 năm qua (Kể từ 1960, năm bắt đầu thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, 19/12/1960



    Người lính VNCH ở chiến trường không biết những số liệu trên, họ chỉ biết: Trước “Hiệp Định Ngưng Bắn Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam 27/1/1973” trên chiến trường, trước khi xung phong vào mục tiêu họ được phi, pháo yểm với số lượng không hạn chế nếu như đụng địch. Nay năm 1974, 1975, một mục tiêu chỉ còn “Bốn (4) viên đạn 105 ly cho một lần đụng trận”. Người Lính cũng không biết thực tế: Nếu không có biến cố Tháng 30 tháng Tư thì cũng chỉ đến khoảng tháng 6/1975 đạn tồn kho sẽ hết, và đến tháng 8 là hết sạch. Báo cáo của Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận Trung Tướng Đồng Văn Khuyên lên Đại Tướng Cao Văn Viên Họ cũng không biết trong Chiến Dịch Hồ Chí Minh tấn công vào Sài Gòn cuối tháng 4 “Toàn thể quân đội Miền Bắc đang có mặt ở Miền Nam! Lúc ấy chỉ cần một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là có thể chiếm hết Miền Bắc” Người tuyên bố câu tán thán nầy không ai lạ, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, Henri Kissinger!





    Năm.



    Tỉnh Long Khánh với Thị Xã Xuân Lộc trải rộng lên vùng rừng miền đông Nam Bộ, tả ngạn sông Đồng Nai, nằm trên ngã Ba của Quốc Lộ 20 đi Đà Lạt và Quốc Lộ I, đường đi ra Hàm Tân, Phan Thiết. Sau thành công đánh chiếm Cao Nguyên Trung Phần thuộc Vùng II, và Vùng I Chiến Thuật do sự rút bỏ hỗn loạn của quân đội Miền Nam trong tháng Ba; qua tháng Tư Bộ Tổng Quân Ủy quân đội Miền Bắc quyết tâm tiêu diệt Miền Nam bằng cách áp dụng chiến thuật tập kích tấn công từ một điểm xong mở rộng ra, tránh giao tranh nếu gặp kháng cự mạnh để tất cả đồng nhất tiến về Sài Gòn. Bí thư Lê Đức Thọ người được giải Nobel Hòa Bình rời Hà Nội với quyết định của Bộ Chính Trị: “Phải đoạt thắng lợi, chỉ trở về với chiến thắng". Vào đến miền Nam, Lê Đức Thọ với tư cách là chính ủy Chiến Dịch Hồ Chí Minh cho phổ biến công điện 37/TK đến với tất cả lực lượng vũ trang đang có mặt tại miền Nam bao gồm 15 sư đoàn quân chính quy cộng sản Bắc Việt.



    Tướng Quân Lê Minh Đảo và những người lính đang giữa trùng vây của lửa ở mặt trận Long Khánh. Tiếng gọi là một sư đoàn nhưng Tướng Đảo chưa hề có đủ lực lượng thuộc quyền cơ hữu để điều động trong một cuộc hành quân quy mô cấp sư đoàn. Đầu tháng Ba năm 1975, Trung Đoàn 48 của Sư Đoàn 18 lại tăng phái cho Sư Đoàn 25 để trách nhiệm mặt trận Tây Ninh, vùng Tây Sài Gòn. Thế nên khi trận chiến Long Khánh bắt đầu vào ngày 9 tháng 4, thì Tướng Đảo trong thực tế chỉ có Chiến Đoàn 43 do Đại Tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy. Chiến Đoàn 43 có nhiệm vụ phòng thủ nội vi thị xã Xuân Lộc hợp cùng các đơn vị của Tiểu Khu Long Khánh do Đại Tá Phúc làm chỉ huy trưởng. Phần Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng gồm các đơn vị trinh sát, thiết giáp, pháo binh trấn giữ dọc Quốc Lộ 20 nằm về phía Bắc-Tây Bắc Long Khánh từ Kiệm Tân là cứ điểm chận đường từ Đà Lạt xuống đến Ngã Ba Dầu Giây. Đây là giao điểm của hai Quốc Lộ I và 20, nút chận về Biên Hòa, nơi đặt bản doanh của Quân Đoàn III, Sư Đoàn 3 Không Quân cách Sài Gòn 30 cây số về hướng Bắc.



    Trước khi trận chiến bùng nổ lớn, Thiếu Tướng Đảo khẩn thiết yêu cầu Tư lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn hoàn trả lại Trung Đoàn 48 từ Tây Ninh về. Nhận lại được trung đoàn nầy, Tướng Đảo xử dụng trấn giữ mặt đông của thị xã Xuân Lộc, đường đi vào Quận Tánh Linh thuộc Tỉnh Bình Tuy. Cũng nói thêm về một đơn vị tăng phái đặc biệt. Đấy là Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Nguyên Tiểu Đoàn 82 vốn thuộc Quân Khu II, khi mặt trận Ban Mê Thuột bị vỡ, Thiếu Tá Long vừa đánh vừa rút lui xuống đồng bằng. Từ Ban Mê Thuột, Thiếu Tá Long đưa đơn vị vượt Cao Nguyên Di-Linh băng rừng đi bộ về Bảo Lộc, xong tiếp tục cắt rừng theo hướng tây-nam để về Long Khánh. Tướng Đảo đã dùng trực thăng bốc toán quân 200 người sống sót còn lại của đơn vị nầy về phòng thủ Long Khánh. Với quân số như kể trên, Sư Đoàn 18 Bộ Binh quả thật đã gánh một nhiệm vụ quá khổ dẫu trong thời bình yên chứ chưa nói về tình thế khẩn cấp của tháng 4, 1975. Cần nhắc lại rằng trước 1972 để phòng thủ vùng Long Khánh-Biên Hòa đã phải tăng cường một lữ đoàn thuộc lực lượng Hoàng Gia Úc-Tân Tây Lan, Lữ Đoàn 11 Chiến Xa Hoa Kỳ cùng những đơn vị bộ binh, nhảy dù Mỹ. Ngoài ra còn có Sư Đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tăng phái, trách nhiệm vùng Long Thành, dọc Quốc Lộ 15, đường đi VũngTàu.



    Tướng Lê Minh Đảo nắm quyền chỉ huy Sư Đoàn 18 từ sau trận chiến Mùa Hè 1972, và ông đã mau chóng tạo nên sự biến đổi thần kỳ cho đơn vị với bản lãnh của một võ tướng là Sống-Chết cùng Binh Sĩ-Đơn Vị. Đối mặt binh đội của Tướng Đảo là Quân Đoàn IV Cộng Sản BắcViệt do Trung Tướng Hoàng Cầm chỉ huy. Sau trận mở màn chiếm đóng Phước Long cuối năm 1974 với chứng tỏ phía Mỹ hoàn toàn im lặng. Cũng tương tự như phản ứng thụ động của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ để mặc Hải Quân Trung Cộng chiếm đóng Hoàng Sa, tấn công tiêu diệt Hạm Đội Việt Nam trong Tháng 1, 1974.



    Để đánh Long Khánh, Tướng Hoàng Cầm được cả một bộ chính trị đảng cộng sản Hà Nội trực tiếp chỉ đạo, yểm trợ, bao gồm: Văn Tiến Dũng, tổng tham trưởng quân đội Miền Bắc; Phạm Hùng, bí thư Trung ương cục Miền Nam; Lê Đức Thọ bí thư trung ương đảng giữ nhiệm vụ chính ủy chiến dịch. Tất cả đồng có mặt tại Lộc Ninh, nơi chỉ cách chiến trường Long Khánh, Xuân Lộc hơn 100 cây-số đường chim bay. Ngoài ra sau nầy khi thắng lợi nghiêng về phía quân Cộng Hòa, bộ tư lệnh mặt trận Cộng Sản đã tăng cường thêm Sư Đoàn 325, đơn vị tổng trừ bị quân đội Miền Bắc, là lực lượng nỗ lực chính đánh chiếm Nha Trang, Phan Rang và Trung Đoàn 95B biệt lập từ vùng châu thổ Sông Cửu Long kéo lên tăng cường. Cuối cùng nâng tỷ số tác chiến lên thành 8 đánh 1.



    5 giờ 40 sáng ngày 9 tháng 4, 1975, chiến dịch đánh chiếm Xuân Lộc bắt đầu với một trận mưa pháo 2,000 quả đạn từ nhiều vị trí cùng đổ xuống trung tâm thị xã Xuân Lộc như đã từng tàn sát An Lộc trong mùa Hè 1972. Đúng 6 giờ 40, tám xe tăng được lính Trung Đoàn 165, đơn vị tiền phong của Sư Đoàn 7 Cộng Sản tùng thiết xông vào trung tâm thị xã Xuân Lộc, nơi đặt Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 18. Lính Cộng Sản ngỡ rằng sau đợt pháo hung hãn, và đội hình ào ạt với những chiếc T54, thế nào cũng sẽ tràn ngập mục tiêu dễ dàng như đã xẩy ra ở Vùng I và II của tháng 3 vừa qua. Nhưng hoàn toàn không phải là như thế, những xe tăng nầy mắc kẹt giữa bãi mìn của một hệ thống tám lớp kẽm gai và mìn bẫy mà Thiếu Tướng Đảo đã sẵn bố trí; không những chỉ thế, những phi cơ A37 và F5 từ phi trường Biên Hòa được gọi đến chỉ sau ít phút cất cánh, và trên đồng trống, giữa những khu rừng cao su đội hình của toán quân Cộng Sản trở nên thành mục tiêu lộ liễu, trần trụi dưới hỏa lực phi pháo của quân ta. Mặt đông của thị xã, dọc Quốc Lộ I, Trung Đoàn 209 cũng của Sư Đoàn 7 cộng sản số phận cũng không mấy khả quan hơn. Bởi đơn vị cộng sản gặp phải Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Lính Biệt Động quyết đánh địch để trả hận lần lui quân bi thảm của tháng trước từ mặt trận Ban Mê Thuộc. Hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 209 bị chôn chân trước tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động và Tiểu Đoàn 3 thuộc Trung đoàn 48 của Tướng Đảo.



    Chiều tối ngày 9 tháng 4 phía cộng sản lại dụng tâm gây căng thẳng bằng cách pháo vào khu vực thị xã với khoảng 2000 ngàn quả đạn trên khắp các vị trí, kể cả khu vực dân chúng, nhà thương, nhà chùa, nhà thờ là những nơi dân chúng chạy vào ẩn núp với hy vọng tội nghiệp là Cộng Sản sẽ nương tay… 5 Giờ 30 sáng ngày 11, đợt tấn công thứ hai bắt đầu. Kết quả cũng tương tự như ngày 9, quân Cộng Hòa giữ chắc vị trí, có khác chăng thêm một số chiến xa bị bắn hạ trên tuyến phòng ngự và một số tù binh bị bắt. Tướng Đảo không quên ra lệnh xuất kho Quân Tiếp Vụ để nuôi số tù binh mới mẻ nầy. Những ngày thất bại nầy được Hoàng Cầm viết lại trong Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân: "Trong ba ngày đầu tiên của chiến dịch, Sư Đoàn 7 bị tổn thất 300 chiến sĩ; Sư 341 thiệt hại 1,200 bộ đội..Tất cả pháo 85 và 57 ly đồng bị phá hủy "Cùng ngày Không Quân VNCH cũng góp thêm vào chiến thắng qua hủy diệt hơn 100 xe quân sự tăng viện cho mặt trận. Ở Sài Gòn, không khí lạc quan bừng lên, Tổng Thống Thiệu thúc dục Tướng Toàn cố gắng giữ vững Xuân lộc để có thế đảo ngược tình thế… Để "B52 có thể trở lại!". Tướng Toàn xử dụng Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi từ Trảng Bom cố mở đường tiếp cận với cánh quân Xuân Lộc, nhưng lực lượng thiết kỵ không thành công trong việc phá chốt ở Ấp Hưng Lộc, Biên Hòa. Không thành công trong việc dùng chiến xa để giải toả áp lực Cộng Sản tại Xuân Lộc, Tướng Toàn xử dụng một thành phần hữu hiệu hơn. Đấy là Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù gồm bốn tiểu đoàn 1, 2, 8 và 9 được Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù trực tiếp yểm trợ. Cuộc hành quân không vận lớn nhất của trận chiến thực hiện trong hai ngày 11, 12 đưa đơn vị tổng trừ bị cuối cùng của Miền Nam vào trận.



    Lần xuất hiện của lực lượng Nhảy Dù tại trận địa đặt nên vấn đề nghiêm trọng đối với bộ tư lệnh chiến dịch Cộng Sản. Chiều ngày 11 Tháng Tư, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ và Trung Tướng Trần Văn Trà Bộ Trưởng Quốc Phòng của tổ chức gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam thay thế Tướng Hoàng Cầm duyệt soát lại kế hoạch tấn công theo chiều hướng mới. Bộ Tư Lệnh Cộng Sản quyết định mở một mặt trận giả nhằm đánh lạc hướng quân đội Cộng Hòa bằng cách chuyển hướng tấn công theo đường đi vòng Xuân Lộc để thực sự tiến thẳng về Sài Gòn. Lực lượng Cộng Sản dần rút đi theo kế hoạch mới của họ nên Tướng Đảo lập tức ra lệnh cho các đơn vị chiếm lại những vị trí bị địch chiếm giữ, tiếp nhận thực phẩm, quân trang, đạn dược và tải thương. Cũng quả thực ông không biết được sự thay đổi quan trọng về kế hoạch mới của Trung Ương Cục Miền Nam chỉ đạo từ Hà Nội. Nhưng ông làm đươc gì hơn với chức vụ tư lệnh một sư đoàn bộ binh trong giờ phút nguy nan nhất của cuộc chiến khi người Mỹ sắp xếp lại một trật tự mới trên toàn thế giới qua liên lạc với Trung Cộng bằng cách giải quyết hy sinh Miền Nam.



    Hai trái bom CBU 55 "Daisy Cutter" nặng 15.000 cân Anh rơi xuống từ lòng chiếc C130 phá toang một vùng rộng lớn trong phòng tuyến của quân cộng sản dọc Quốc Lộ 20 tăng cường thêm sự quyết tâm giữ vững Long Khánh của phía quân Cộng Hòa, nhưng cũng chính là màn khói vô tình giúp cho lần rút đi theo kế hoạch mới của phía cộng sản để lại 235 xác bộ đội đếm được trên trận địa. Không một ai trong Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa, nơi Phòng hành quân Tổng Tham Mưu Sàigòn ước tính được ý niệm hành quân của phía Cộng Sản là sẽ siết chặt Biên Hòa-Sài Gòn với hai gọng kềm theo hai hướng Bắc và Đông bằng cách cắt Quốc Lộ I ở Dầu Giây và Quốc Lộ 15 ở Long Thành.



    Tòa Đại Sứ Mỹ phấn khởi trước chiến thắng Long Khánh cố nài Quốc Hội Mỹ chuẩn chi 722 triệu quân viện khẩn cấp cho Việt Nam. Nhưng trong phiên họp ngày 17 tháng 4, Ủy Ban Quân Sự Thượng Viện đã bác bỏ thẳng thừng qua câu nói bất cận nhân tình của hai Thượng Nghị Sĩ Jacob Javits và Edmund Muskie: "Cho tiền để lo việc di tản thì bao nhiêu cũng được chứ một xu cho ngân sách quân sự cho Thiệu cũng không có". Cuối cùng, Ngày 20 tháng 4, Tướng Toàn tư lệnh và Đại Tá Thọ, Trưởng Phòng Hành Quân Quân Đoàn III đích thân đến giao cho Tướng Đảo một lệnh mơ hồ nhưng vô cùng kích động: "Lệnh của Tổng Thống Thiệu Sư Đoàn 18 rút bỏ Xuân Lộc về bảo vệ mặt trận Sài Gòn.”



    Thiếu Tướng Đảo chỉ có đúng nửa ngày để hoàn tất một kế hoạch rút quân bao gồm lực lượng một sư đoàn cơ hữu cùng các đơn vị tăng phái và yểm trợ, chưa kể thành phần diện địa của Tiểu Khu Long Khánh. Nhưng như một phép lạ Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đã hoàn tất cuộc lui binh về Bà Rịa, bảo toàn đơn vị, vũ khí, thậm chí đến hai khẩu pháo 175 ly hạng nặng cũng giao lại đủ cho Quân Đoàn. Cũng một phần, lực lượng giữ nhiệm vụ hậu vệ đoàn di tản là Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù do Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh chỉ huy. Trung Tá Đỉnh là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Dù. Tiểu đoàn 6 là đơn vị đã giải tỏa An Lộc trong trận đánh ngày 8 tháng 6, 1972 mà đơn vị Cộng Sản đóng chốt ở Xa Cam, nam An Lộc chỉ còn đúng một người bị bắt làm tù binh tên gọi là Nguyễn Văn Tiền.



    Một điều cần ghi thêm là Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Đoàn dù đã bất chấp lệnh của Tổng Tham Mưu, nên đã gởi một đơn vị Nhảy Dù khác là Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù do Trung Tá Nguyễn Lô, đơn độc đưa quân đi ngược Tỉnh Lộ 2 từ Bà Rịa lên Long Khánh đón đoàn quân di tản. Tiểu Đoàn 7 Dù là đơn vị cuối cùng chận giặc nơi Cầu Xa Lộ, cửa ngõ chính của Sài Gòn ở hướng Bắc trong buổi sáng Ngày 30 Tháng Tư. Khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, buông súng, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo dừng quân trên xa lộ Biên Hòa, nhìn về hướng Trường Bộ Binh Thủ Đức, Long Thành, Bà Rịa, và xa kia là Xuân Lộc, Long Khánh, gần hơn Trung Liệt Đài của Nghĩa Trang Quân Đội Long Bình… Ông thấy thấp thoáng bức tượng Tiếc Thương tạc hình Người Lính Chờ Đợi in hình trong không gian mờ khói đạn.. Người lính cuối cuộc chiến chợt thoáng nhớ những lời thơ ngắn: Vì anh là Lính áo rằn. Ra đi nào biết mấy trăng mới về.. Những câu thơ của em ông, Cố Trung Tá Lê Hằng Minh Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến "Trâu Điên", người lính đã ra đi từ một ngày Hè năm 1966 nơi chiến trường Trị-Thiên, ở chân Cầu Câu Nhi Phường. Phường Câu Nhi, quận Phong Điền, Thừa Thiên là những nơi đâu? Rất nhiều Người Lính đã ra đi, không trở về từ những vùng đất không hề biết. Hôm ấy, sáng 30 Tháng Tư, 1975, rất nhiều Người Lính không còn chốn trở về - Những Người Lính Mất Quê Hương.





    Viết lại lần cuối,
    Cali, 15 Tháng Hai, 2025
    Người Lính Phan Nhật Nam

    https://hon-viet.co.uk/PhanNhatNam_NamM ... hinLai.htm
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: tưởng niệm 50 năm người Việt mất miền Nam Tự Do

Bài viết bởi Hoàng Vân »






  • Không cần phải đánh chiếm Việt Nam
              
    – Dương Khiết Trì,
    Cựu Bộ trưởng Bộ ngoại giao Tàu Cộng

    ______________________
    Dương Khiết Trì






    LTS: Trên mạng xã hội đang lan đi bài viết này, không biết rõ có đúng Dương Khiết Trì – Cựu Bộ trưởng Bộ ngoại giao Trung Cộng) là tác giả hay không? Nhưng xem những phân tích từ bài viết, chúng ta thấy tác giả liệt kê các hành xử của chế độ Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn chính xác, và chúng phục vụ lợi ích của Trung Cộng.




    Mới đây, Dương Khiết Trì (Yang Jiechi), cựu bộ trưởng Ngoại Giao Trung Cộng (2007-2013) đã viết một bài về vấn đề này, tựa đề: “Không cần phải đánh Việt Nam chúng nó!”



    Đảng Cộng sản Việt nam, chúng sẽ giao Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc để chúng ta xây dựng căn cứ quân sự chiến lược trên 3 miền của chúng.



    Tại sao phải đánh chúng khi hơn 700km2 vùng biên giới phía nam của ta đã được chúng dâng cho ta, một nửa Thác Bản Giốc đã được ta cắm cờ 5 sao, Ải Nam Quan đã trở thành Hữu Nghị Quan mà chúng vẫn cực kỳ coi trọng đại cục hữu nghị giữa hai đảng và nâng niu gìn giữ để trao lại cho những thế hệ mai sau của chúng.



    Súng đạn nào mãnh liệt bằng phong bì tống vào miệng chúng để sau đó Đại Hán ta ngồi ngay trên nóc nhà Tây Nguyên, đào mồ xới mả đất Mẹ của chúng, thải chất độc vào môi trường của chúng và Bộ chính trị của chúng vẫn khăng khăng đấy là chiến lược đã quyết, là chính sách công nghiệp hóa hiện đại đất nước không thể ngừng.



    Xe tăng đại pháo nào bằng hàng ngàn công trình xây dựng để những sư đoàn Trung Hoa trong bộ áo công nhân có mặt trên xứ sở của chúng, kéo dài từ mũi Cà mau cho đến Hữu nghị quan.



    Phi cơ, chiến hạm sao bằng 90% gói thầu của chúng ta đang khống chế nền kinh tế của chúng, hàng hóa thặng dư made in China đang ở trên thân thể chúng, bàn ăn của chúng, bao tử của chúng, nhà cầu của chúng.



    Tại sao phải đánh chúng khi chỉ cần đóng đường biên giới là dân của chúng không đủ tiền mua quần áo mặc, thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng, xe dream và giấc mơ thấp hèn của chúng không còn chạy đầy đường, cắt xăng dầu là cả nước chúng tối đen và chỉ cần một cú nổ là Tây Nguyên của chúng sẽ nhuộm bùn đỏ.



    Chúng ta không phải đánh, không phải bắn một viên đạn nào mà vẫn có thể làm sụp đổ thị trường chứng khoán của chúng, làm tán gia bại sản những tên đồng chí tư bản đỏ mà tài sản vốn liếng có được là nhờ vào và đang lệ thuộc vào nền kinh tế Trung Hoa made in Vietnam.



    Tại sao chúng ta phải đánh!?



    Cần gì phải đánh khi cả vùng biển mà chúng gọi là biển Đông đã, đang và sẽ là sân nhà của chúng ta; khi ngư dân của chúng đi đánh cá trên vùng biển của tổ tiên chúng mà lấm lét như đi ăn trộm; khi hải quân của chúng không dám lai vãng trong suốt thời gian giàn khoan khủng của ta chậm chậm tiến vào và khoan vào lòng biển của chúng nó; khi sự chống trả của chúng là những lời tuyên bố đã trở thành trò hề trên sân khấu ngoại giao; khi phản đối của chúng là những cú điện đàm với lãnh đạo ta bằng cái điện thoại không cắm dây; và chúng ta chỉ cần đuổi chúng ra khỏi nhà của chúng bằng vòi rồng phun nước.



    Cần gì phải đánh để chúng ta trở thành đạo quân xâm lăng và mang tiếng dưới mắt nhìn của thế giới, làm xấu đi hình ảnh yêu chuộng hòa bình của Đại Hán. Trong khi chúng ta đã từng bước trong hòa bình thành công thu tóm từng tấc đất, tấc biển, từng vùng đất, vùng biển của chúng bằng văn kiện do chính chúng ký kết. Trong khi chúng ta vô cùng hiệu quả trong tiến trình biến chủ quyền của chúng thành vùng tranh chấp, biến vùng tranh chấp thành vùng khai thác của ta và chúng chỉ dám vừa lên tiếng như chó sủa người qua đường vừa cúi đầu cam kết tất cả vì đại cục Việt-Trung.



    Đó là đối với chúng ta. Còn đối với dân của chúng.



    Cần gì phải đánh khi chúng thay thế ta ngăn chặn, trấn áp, bắt giam, bỏ tù dân của chúng đứng lên phản đối Đại Hán. Đánh chúng sẽ khơi dậy lòng yêu nước của dân tộc chúng vốn đã là sức mạnh vô biên từng đánh bại chúng ta hàng ngàn năm qua.



    Đảng của chúng đã tích cực giúp chúng ta tiêu diệt lòng yêu nước của dân tộc chúng trong suốt bao năm qua, đã biến đa phần dân của chúng thành những đàn cừu chỉ muốn sống trong hòa bình của một cuộc đời nô lệ.



    Chúng đang làm tốt!



    Chưa bao giờ trong lịch sử bành trướng, chúng ta có được một đám thái thú địa phương làm tay sai đắc lực và hiệu quả như chúng. Khi chúng ta có mặt ở biển Đông ngay trước cửa nhà chúng, chúng đã ra lệnh hải quân của chúng không được bén mảng sợ làm phiền lòng ta. Khi cần đốt phá, cướp của, giết người để bôi đen những tên biểu tình yêu nước, công an mật vụ của chúng ngoan ngoãn nghe lời ta tạm lánh. Khi cần cấm ngặt từng tên yêu nước năng nổ xuống đường phản đối chúng ta, chúng đã nhiệt tình như những con chó Tứ Xuyên quên ăn quên ngủ canh gác ngày đêm.



    Tại sao chúng ta phải đánh chúng và sau đó phải cai trị dân của chúng? Tại sao ta phải làm công việc đối phó với 90 triệu dân của chúng trong khi giống cẩu phương nam này làm giỏi hơn chúng ta?



    Chúng ta không cần đánh bởi chúng đã đánh dân của chúng thế chúng ta.



    Chúng ta cũng không cần phải cướp vì chúng đã tự cướp nước của chúng để dâng để bán và sẽ tiếp tục dâng, tiếp tục bán cho chúng ta.



    Khi cần chúng ta sẽ chuyển quân, kéo đại pháo, xe tăng chạy vòng quanh biên giới để giúp đảng của chúng nhân danh hòa bình, ngăn chặn hiểm họa chiến tranh mà trị đám dân muốn vọng động của chúng.



    Người đứng đầu Thủ đô đã ra lệnh dân của chúng rằng:

    “Biểu thị lòng yêu nước, yêu Thủ đô thông qua việc ra sức lao động, học tập, công tác và hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước nhằm phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và ổn định đời sống nhân dân…”



    Người đứng đầu nhà nước ra lệnh cho dân của chúng rằng:

    “Đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống và góp phần cùng cả nước bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc theo đúng luật pháp của nước ta và luật pháp quốc tế….”



    Chúng đã làm đúng bổn phận của một chư hầu trung thành với chính sách trị dân thuộc địa: hãy lo làm giàu và sống yên ổn. Dân của chúng chỉ được làm giàu và đó là phương thức duy nhất được cho phép để bảo vệ tổ quốc của chúng.



    Không cần phải đánh. Cờ đại Hán của chúng ta sẽ từ 5 sao thành 6 sao phất phới trên toàn cõi lãnh thổ của chúng. Không bằng súng đạn mà sẽ bằng những văn kiện ký kết từng phần giao nhượng.


    Văn kiện sau cùng là văn kiện chúng ta viết sẵn cho chúng để chúng XIN ký kết được làm một vùng tự trị trong Đại Hán vĩ đại của chúng ta.





    Dương Khiết Trì

    Nguồn: https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay- ... e_vignette
    https://hon-viet.co.uk/DuongKhietTri_Kh ... auCong.htm
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: tưởng niệm 50 năm người Việt mất miền Nam Tự Do

Bài viết bởi Hoàng Vân »






  • Làm sao quên được ngày 27/1/1973,
    Kissinger bán đứng VNCH cho CS Quốc tế

    _________________
    Mường Giang





    Tuy chiến tranh đã kết thúc từ lâu và cọng sản Bắc Việt ngay từ ngày 1-5-1975 qua Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng... đã công khai xác nhận XÂM LƯỢC MIỀN NAM, còn Mặt Trận Giải Phóng chỉ là một phần Ðảng Bộ Trung Ương nối dài, một thứ công cụ bịp để che mặt và đánh lừa bọn trí thức ngây thơ da vàng da trắng mà thôi.



    Thế nhưng đến nay vẩn còn nhiều người chưa chịu trả lại công lý cho người VN mỗi khi đề cập hay nhắc tới cuộc chiến đó. Thật ra đây cũng chỉ là một cách chạy tội của những người trước kia tay lở nhúng vào tội ác, hoặc cố ý hay vô tình khi đứng về phía cọng sản, thân thiện, giúp đỡ chúng một cách mù quáng, không cần biết tới lẽ phải và lương tâm. Do trên họ cứ tự mình tùy tiện áp đặt cho cuộc chiến đó, nhiều cái tên nghe qua thật khôi hài, cũng may đến nay không còn được mấy ai chấp nhận. Tóm lại, dù có gọi là cuộc chiến ủy nhiệm, nội chiến hay là chiến tranh giải phóng dân tộc hoặc gì gì chăng nửa, thì đó cũng là một cuộc chiến xâm lược, do cọng sản quốc tế chủ động, nhằm nhuộm đỏ Ðông Dường và Ðông Nam Á. Cọng sản Hà Nội hay VC miền nam chỉ là kẻ thừa hành sứ mạng quốc tế trên, đã khiến dân chúng VNCH trở thành nạn nhân, phải đem máu xương ra chống lại để sống còn.



    Từ đầu thế kỷ XX tới nay, Hoa Kỳ vẫn là một quốc gia vô địch. Chính Họ đã giúp đồng minh thắng phe trục qua hai cuộc thế chiến. Trong chiến tranh lạnh giữa khối tự do và cọng sản, Hoa Kỳ đã chiến thắng Liên Xô vẽ vang, giựt sập bức tường Bá Linh, giải thề Xô Viết, giải phóng Ðông Âu và nhiều quốc gia cọng sản khác trong đó có Ðông Ðức, Nga La Tư vĩnh viễn thoát khỏi gông cùm đỏ trong mấy thập niên qua. Mới đây quân Mỹ như sấm sét, trong vòng không đầy một tháng, bình định xong A Phú Hãn và Iraq là hai vùng đất chết được coi như bất khả xâm phạm của thế giới Ả Rập.



    Nhờ những chiến công trời biển này, ít ra hiện tại cũng còn làm Trung Cộng vỡ mật khi muốn trở thành trùm thế giới, bá chủ Á Châu và vua biển Thái Bình Dương. Nhưng tại VNCH thuở đó, Hoa Kỳ lại bị sa lầy dù thực tế tự chạy khi đã đạt được ba mục đích chiến lược quốc sách: Tạo được sự mâu thuân chia rẽ giữa Liên Xô- Trung Cộng, thành công trên chiến trường VN về sự thử thách vũ khí và quân đội với khối cọng sản quốc tế qua bộ đôi Bắc việt và trên hết là ngăn chặn được Trung Công không cho tràn xuống Ðông Nam Á ít nhất là lúc đó. Tóm lại người Mỹ tới VN không phải để chiến đấu thật sự như họ đã làm tại hai cuộc thế chiến hay mới đây ở A Phú Hãn và Iraq, mà đến để nướng quân dụ địch. Tất cả những cái được gọi là Rules of Engagement hay là luật chiến đấu dành cho quân đội Hoa Kỳ tại VN và Nam Hàn. Tài liệu này được giải mật một phần từ năm 1985 bởi Congressional record, nhờ đó ta mới biết được lý do tại sao quân đội Hoa Kỳ, Ðồng Minh và QLVNCH bị Hoa Thịnh Ðốn trói chặt tay khi đang chiến đấu. Bởi vậy cứ không tập, đổ bom liên tục xuống núi, xuống biển nên Hà Nội, Hải Phòng đâu có hề hấn gì củng như không thấy có bất cứ một cán bộ nào kể cả cán thấp tại xã huyện bị thương vong.



    Ðây là một trò chơi mèo bắt chuột mà rõ ràng nhất là đợt Mỹ oanh tạc Bắc Việt lần cuối cùng, bằng B52 liên tiếp, khủng khiếp suốt 12 ngày đêm và chỉ cần thêm MỘT NGÀY là toàn bộ chóp bu Hà Nội trốn dưới hầm thép ra đầu hàng, giúp dân chúng VN ngày nay thoát được ách nô lệ cọng sản. Thế nhưng Hoa Kỳ đã ngưng và Bắc Việt đã ngoan ngoãn hối hả ngồi vào bàn nghị sự. Rồi những ngày cuối cùng của tháng tư đen 1975 miền nam sắp mất, trong lúc Hoa Kỳ với một lực lượng hải quân hùng hậu có đầy máy bay và bom đạn, kể luôn kho bom nguyên tử tới mấy trăm ngàn trái, nếu muốn dù có Trung Cộng và Liên Sô can thiệp, vẫn thừa sức đánh tan bộ đội Bắc Việt trong chớp nhoáng để cứu QLVNCH. Mặt trận Xuân Lộc tháng 4-1975 là một thí dụ điển hình, chỉ cần thêm vài chục trái bom tiểu nguyên tử, tình hình chiến sự đã thay đổi nhưng Mỹ cho bom mà không viện trợ ngòi nổ, ba trái bỏ tại ngã ba Dầu Giây chỉ để mua thêm thời gian giúp người Mỹ chạy được an toàn thế thôi.



    Tóm lại, họ không bao giờ làm vậy và còn được lệnh di chuyển hết các mẫu hạm khỏi bờ Ðông hải. Ðó là chiến thuật để thua vừa nuôi dưỡng chiến tranh sắp tới nên không thể bắt Hà Nội tan rã. Thế giới ghét cái trò lừa bịp của Hoa Kỳ, nên mặc dù đã nhìn rõ sự láo dóc tàn khốc của Việt cộng nhưng cứ giả vờ nhắm mắt hoan hô cổ võ trò hề trên, làm hại cho một số người VN nhẹ dạ tưởng thiệt, lại cứ theo giặc, tiếp tay hãm hại đồng bào mình trong lúc khốn cùng qua màn cổ võ “nối vòng tay lớn, hòa hợp hòa giải..”



    Cũng vì vậy nên dù chiến tranh đã chấm dứt từ xa lắc nhưng VC chứng nào tật ấy, một mình một chợ, độc quyền thao túng lịch sử, dành làm chủ đất nước, bịa đặt những huyền thoại vu vơ để làm dao động các thế hệ mới lớn, mục đích chạy trốn tội ác thiên cổ đã gây ra trong mấy chục năm máu lệ hận trường. Riêng Hoa Kỳ trong màn kịch giả bộ thua đau, đã không ngớt biện minh để tìm cách thoát ra cái hội chứng Vietnam syndrom, trong đó chính họ là kẻ phản bội và thủ phạm tấn tuồng trên là Nixon- Kissinger. Một điều tàn nhẫn khác của người Mỹ, đó là sự vu cáo trắng trợn, đổ tội cho đồng minh hèn nhát không chịu chiến đấu nên phải mất nước. Thật sự trong giờ 25, nếu không có sự chiến đấu can trường của QLVNCH trên khắp các chiến địa, liệu một số người Mỹ, kể luôn ông Ðại sứ có còn mạng thoát được Sài Gòn? như vụ Ba Tư bắt con tin Mỹ năm 1983.



    Ngày nay nhờ tài liệu mật từ văn khố của Liên Xô cũ cũng như tại thư viện chiến tranh Hoa Kỳ ở Texas gọi tắt là ISAW, đã chấm dứt các huyền thoại dỏm của VC trong mấy chục năm qua, tốn công dàn dựng bóp méo và đưa ra ánh sáng rằng những xáo trộn chính trị tại VNCH, dù do ai cũng chỉ là cớ để Bắc Việt cưởng chiếm miền nam.



    Ý đồ trên, theo J.Race trong The lost revolution, đã manh nha từ năm 1958 khi Hà Nội ra lệnh khui lại các hầm vũ khí được chôn giấu tại miền nam trước khi tập kết, để trang bị cho cán binh cơ sở nằm vùng. Cũng trong năm này, Lê Duẩn theo lệnh Hồ đã lén lút vào Nam lượng giá tình hình và trở về bắc họp Trung ương đảng lần thứ 15, nghị quyết lập đảng bộ miền nam, tức là VC hay mặt trận giải phóng, tấn công VNCH bằng vũ trang. Chiến tranh được phát động chính thức bằng hai cuộc nổi loạn gọi là đồng khởi nhưng đã bị dập tắt ngay tại Trà Bồng (Quảng Ngãi) ngày 28-8-1959 và BếÔn Tre ngày 17-1-1960. Chính Thủ Tướng Nga Nikita Khrushchev đã phất ngọn cờ tiến quân ngày 6-1-1961 để mở màn cuộc chiến VN sau khi vở tuồng mặt trận trình diễn ra mắt tại một khu rừng già kế biên giới Việt Miên trong liên ranh hai tỉnh Hậu Nghĩa- Tây Ninh cuối tháng 12-1960 với nhân sự nòng cốt gồm hơn 25.000 cán binh từ bắc hồi kết. Tháng 5-1962, Bộ Trưởng quốc phòng Hoa Kỳ thời Tông thống J.Kennedy là McNamara thăm viếng VNCH, cũng để mở màn cái thảm kịch chiến tranh phải thua, khiến hơn 60.000 quân nhân các cấp Hoa Kỳ, UỊc,Tân Tây Lan, Nam Hàn,Phi, Thái và mấy triệu người VN cả hai miền nam bắc phải chết oan khiên trong bom đạn tàn bạo của một cuộc chiến bẩn thỉu có một không hai trong dòng sử nhân loại.



    Ngày 1-11-1963 Hoa Kỳ đạo diễn biến cố lật đổ nhà Ngô, một mặt tạo sự vô chính phủ tại miền nam trong ba năm xáo trộn 1963-1967, vừa có cớ đem quân vào giúp đánh VC ổn định chính trị nhưng trên hết là thực hiện cái chiến lược, hy sinh con chốt VNCH để bắt nhốt con cọp ngủ Trung Cộng, rảnh tay tiêu diệt Liên Xô nhưng thả Hà Nội để lại tiếp tục làm con chốt thí mạng với Tàu đỏ khi cần. Chiến tranh cứ thế leo thang, tại miền nam Mỹ thêm quân, giội bom oanh tạc, thì miền bắc càng nhận được thêm nhiều quân viện gạo vải từ khối cọng sản quốc tế, cũng như sự hiện diện của mấy trăm ngàn đồng chí Trung Cộng, Bắc Hàn, Cu Ba, Ðông Ðức.. do Hồ lãnh tụ mời tới tham chiến, đóng đầy từ vỹ tuyến 20 ở Thanh Hóa cho tới biên giới Việt Hoa.



    Ngày 4-9-1967 mở đầu nền đệ nhị cộng hòa cho tới ngày tàn cuộc 30-4-1975. Cũng từ đó QLVNCH trên khắp chiến trường trong nước cũng như tại Kampuchia và Hạ Lào, đã chứng tỏ cho thế giới là một đạo quân thiện chiến và có kỷ cương nhất vùng Ðông Nam Á, qua các chiến thắng lừng lẫy trong Tết Mậu Thân 1968, vượt biên đánh thẳng vào căn cứ địa của R tại Kampuchia năm 1970, Hạ Lào năm 1971, mùa hè đỏ lửa 1972, Hoàng Sa tháng 1-1974.. tạo nên một niềm tin tất thắng trong lòng quân nhân các cấp, nhất là những sĩ quan chỉ huy trẻ tuổi trung cấp và tuyệt đai quân sĩ thanh niên nam nữ yêu nước dưới quyền.



    Thế nhưng giữa lúc chiến thắng gần kề thì cũng là lúc Kissinger công khai thái độ bán đứng đồng minh qua cái hiệp định quái đản ngày 27-1-1973. Thì ra tất cả đều là xảo thuật, đóng kịch từ cuộc họp thượng đỉnh Midway ngày 8- 6- 1969 giữa Nixon- Nguyễn văn Thiệu với cam kết bảo vệ và quân viện cho VNCH.. chỉ là lời hứa cuội trên văn bản. Thật sự Kissinger đã đi đêm với cọng sản Hà Nội từ khuya, để rút quân, lấy tù binh về nước.



    Ðể đạt được trò bịp trên, Hoa Kỳ dùng thủ đoạn chèn ép chính phủ VNCH bằng cái thòng lọng VIỆN TRỢ, chụp mũ làm mất chính nghĩa quốc gia của người miền nam, qua truyền thông truyền hình và hăm dọa ám sát thủ tiêu lãnh đạo nếu không chịu ký nhận cái hiệp định phi lý vô nhân đạo, mà VC đã đem liệng ngay vào thùng rác sau đó.



    Cái hài hước của lịch sử mà ai cũng biết được, là mặt thật nhưng vẫn phải cắn răng nuốt lệ thi hành. Và cũng kể từ đó, người Mỹ hân hoan rút hết về nước, trước sự thắng cử vinh quang thêm một nhiệm kỳ của tổng thống Nixon. Bộ đội Bắc Việt thế chân Hoa Kỳ, công khai ở lại lãnh thổ độc lập tự do của người miền Nam theo tinh thần hiệp định hai nước, hai chính thể ký năm 1954. Cũng qua sự toa rập ký kết từ trước, quốc hội Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ quân sự và kinh tế cho VNCH, đưa đến sự sụp đổ toàn diện của một quốc gia chỉ vì tin cậy vào sự giúp đỡ của đồng minh.. vào lúc 12 giờ trưa ngày 30-4-1975.













    Trong suốt bao chục năm qua, cọng sản đã ký bao nhiêu hiệp định ngày 6-3 và 14-9-1946, 20-7-1954 rồi 27-1-1973 nhưng chẳng bao giờ thực hiện. Bởi vậy đừng tin những gì cọng sản nói mà hãy nhìn những gì chúng làm. Chí lý thay lời nhận định của cố tổng thống Nguyễn văn Thiệu, vậy mà tới nay còn không ít người không chịu tin vào sự thật.





    1 - KISSINGER VÀ HIỆP ƯỚC HÒA BÌNH GIẢ MẠO:



    Cái khôi hài cười ra nước mắt của người Mỹ là ngay trong lúc một mặt đổ quân ào ạt vào nam VN năm 1965, cũng đồng thời bí mật đi đêm với Bắc Việt gọi là mưu tìm một giải pháp hòa bình, chính Pháp và Tòa Thánh La Mã khởi động đầu tiên dàn xếp để hai phiá ngồi vào bàn hội nghi nói chuyện ngưng bắn theo kế hoạch Mayflower nhưng bất thành.



    Ngày 17-6-1965 Anh và Liên Xô nhập cuộc, mở hội nghị 4 nước Anh- Ghana- Nigeria- Tobago với sự ủng hộ công khai của hai nghị sĩ dân chủ là Mike Mansfield và Fullbright, muốn Mỹ ngưng oanh tạc Hà Nội và ngược lại Bắc Việt ngừng chuyển bộ đội vào nam nhưng bị cọng sản bác bỏ vì lập trường đối nghịch của hai đàn anh Nga-Tàu. Tháng 7/1965 tổng thư ký LHQ là U Thant muốn mở lại hội nghị Geneve 1954. Tháng 10/1965 ngoại trưởng Ý là Amintore Fanfani và Giáo Hoàng Paul VI cũng nhập cuộc, bằng cách liên lạc thẳng với Hà Nội, Mặt Trận GPMN và Tổng Thống Johnson nhưng cũng bất thành vì Hồ đòi công nhận Ma mặt trân là một chánh phủ giống như VNCH.



    Tóm lại những kế hoạch kể trên đều khởi động nhịp nhàng theo các phong trào phản chiến tại nội địa Mỹ do Luther King, Hoffman, Larson xách động, biến các trường đại học Mỹ thành căn cứ du kích Bắc Việt ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Chiến tranh dữ dội khắp VNCH nhịp nhàng với các biến động chính trị tại Huế- Sài Gòn. Hoa Kỳ tiếp tục oanh tạc miền bắc nhưng Hồ vẫn không nhượng bộ vì đang leo dây giữa Nga- Tàu, nên chỉ biết ậm ờ trước các đề nghị hòa bình. Tại Mỹ, ngày 20-2-1966, Robert F.Kennedy công khai đòi cho MT/GPMN tham gia chính phủ nhưng bị chống đối kịch liệt.



    U Thant và De Gaulle là hai nhân vật hung hăng nhất trong việc kêu gào phải hòa bình tức khắc tại VN bằng cách ngưng oanh tạc miền bắc, Mỹ rút quân và để MT/GPMN tham chính. Sở dĩ cả hai làm như vậy vì U Thant tuy là tổng thư ký LHQ nhưng lại thân cộng ra mặt, còn De Gaulle với dụng tâm đạo đức giả, thù Mỹ đã phỏng tay trên Ðông Dương, nên nhỏ mọn trả thù vặt. Rốt cục cả thế giới lẩn Vatican đều trúng kế Hồ Chí Minh, càng lúc càng chia rẽ và phân hóa trầm trọng.



    Năm 1967 phong trào phản chiến lên cao tại Hoa Kỳ làm phân hoá đảng dân chủ vì là mùa bầu cử, nên tổng thống Johnson tuyên bố trong cuộc hội nghi với TT Nguyễn văn Thiệu tại Guam, là sẽ thương thuyết thẳng với Bắc Việt.Tất cả chỉ là màn hỏa mù ngoại giao vì Mỹ và Hà Nội đã đi đêm từ cuối năm 1966, do sự dàn xếp của Thụy Ðiển nhưng phải đợi tới ngày 31/3/1968 khi Johnson tuyên bố không tái tranh cử và bộ đội của Bắc Việt cũng như VC bị tan nát tại miền nam trong trận Tết Mậu Thân, cọng sản mới chính thức ngồi lại với Mỹ. Rồi Nixon thắng cử tống thống, Kissinger được giao trách nhiệm đi đêm với Lê Ðức Thọ, tự quyết định số phận của VNCH, mà không cần đếm xỉa gì tới chủ quyền của miền nam lúc đó.



    Theo giáo sư tiến sĩ Stephen Young, từng phục vụ nhiều năm trong bộ ngoại giao Hoa Kỳ thì Kissinger, trưởng phái đoàn thương thuyết Mỹ đã bán đứng VNCH cho Bắc Việt khi chấp thuận cho Hà Nội được lưu giữ đạo quân xâm lăng ở miên nam VN. Hậu quả tạo ưu thế quân sự cho địch cưỡng chiếm VNCH khi Hoa Kỳ rút toàn bộ quân lực về nước và cắt giảm quân viện năm 1973 rồi cắt đứt năm 1975. Tổng thống Nixon ngay khi làm TT năm 1969 đã tuyên bố sẽ chấm dứt chiến tranh, đem hết quân Mỹ về bằng một kế hoạch bí mật.



    Vấn đề chính là Nam VN chẳng hề biết tới kế hoạch đó là gì và nói là VN hóa chiến tranh nhưng QLVNCH tới đầu năm 1972 mới được cải tiến trang bị, trong lúc bộ đội miền bắc đã sử dụng những vũ khí cá nhân và cộng đồng tối tân của khối cộng từ khi Mỹ còn hiện diện.Năm 1972 Nixon đả đạt được những thỏa uớc lịch sử với Nga lẫn Trung Cộng. Chính điểm này để Nixon thắng Mc.Govern làm TT nhiệm kỳ 2. Tuy nhiên việc oanh kích Hà Nội trong 12 ngày liên tiếp và thả mìn phong tỏa Hải Phòng, suýt làm Bắc Việt đầu hàng vô điều kiện, nếu không bị đảng dân chủ và phe phản chiến chống đối dữ dội.



    Giữa lúc TT Nixon trong tình thế khó xử, thì Kissinger đưa sáng kiến phản bội VNCH để đổi lấy sự ủng hộ của quốc hội Mỹ, trong việc làm thăng bằng cán cân chiến tranh lạnh, nói thẳng là giúp Do Thái đương đầu với khối Ả Rập. Do nhận thức sai lầm trên, đã khiến Kissinger thành kẻ chủ bại, hèn nhát, bất nhân đẩy VN vào định mệnh oan nghiệt. Thực tế còn gian ác hơn ta nghĩ, vì Kissinger chẳng những muốn Hoa Kỳ rút khỏi VN mà còn làm cho dân chúng Mỹ không còn nhớ tới cuộc chiến đó trong tiềm thức. Hậu quả lưu manh này khiến cho các quân nhân Hoa Kỳ tham chiến tại VN trở về bị đối xử tàn tệ, tẻ nhạt cho tới mấy năm sau mới được hồi phục lại danh dự.



    Trong thâm tâm của Kissinger, đưa quân đội Mỹ về chưa đủ, mà phải làm sao thọc gậy quốc hội cắt đứt mọi nguồn viện trợ cần thiết, thì mới chấm dứt được chế độ miền nam. Do trên ông ta tự đẻ ra sáng kiến riêng, chủ đích làm hỏng chương trình VN hoá của Nixon. Theo tài liệu của đại sứ Bunker, thì bí mật lớn nhất của Kissiger là sự xuống thang chiến tranh. Ðây là sáng kiến tàn nhẫn nhất vì để đổi một thắng lợi ngoại giao cho Mỹ và VNCH, Kissinger cho lại Bắc Việt MỘT CHIẾN THẮNG QUÂN SỰ, tức là Y đã tiết lộ bí mật quốc phòng cho địch. Nhưng sự kiện này không bao giờ Kissinger dám nhận và chính trong hồi ký của TT. Nixon đã viết là chẳng bao giờ ông cho phép làm chuyện đó khi thương thuyết với Hà Nội.



    Tóm lại để kết thúc chiến tranh VN theo ý mình, Kissinger không bao giờ trình bày sự thật khi thương thuyết với Hà Nội cho TT.Nixon biết. Từ ngày 13-4-1971, Kissinger đã manh nha trò phản bội và lộng quyền, khi tự sử dụng đường dây nóng đặc biệt không qua Bộ Ngoại Giao và Tổng Thống Mỹ, để ra lệnh cho Ðại Sứ Bunker và Bắc Việt. Theo các tài liệu lịch sử đã giải mật, những lộ đồ đề nghị hòa bình VN của các giới chức Mỹ từ tổng thống Nixon tới đại sứ Bunker hoàn toàn trái ngược với ý riêng của Kissinger



    Theo bản dự thảo chiến lược chính thống, thì sự ký kết hòa bình chỉ xảy ra sau khi QLVNCH đạt được chiến thắng tại Hạ Lào qua cuộc hành quân Lam Sơn 719, phá vỡ toàn bộ các căn cứ hậu cần của Bắc Việt tại đây nhằm cắt đứt đường tiếp vận cho bộ đội miền bắc qua đường mòn Hồ chí Minh. Về rút quân thì bắt đầu năm 1971-1972, bộ binh về trước khi đã chứng thật rằng QLVNCH được VN hoá chiến tranh, đủ mạnh để thay thế quân lực Hoa Kỳ đương đầu với Bắc Việt. Riêng Không quân- Hải quân vẫn duy trì cho tới khi thấy Hà Nội thật sự tôn trọng hòa bình của Nam VN. Một điều quan trọng nhất mà đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn là Bunker, mong muốn Hoa Thịnh Ðốn phải chứng tỏ vai trò hợp hiên của CHÍNH PHỦ VNCH tại bàn hội nghị và cái sự Hoa Kỳ ngồi nói chuyện với Hà Nội đã là một nhượng bộ, vì rõ ràng lúc đó Bắc Việt đang thảm bại quân sự trên khắp các chiến trường, chiến dịch ở miền nam. Một sự kiện khác cũng không kém phần quan trọng tại Hoa Kỳ, là mặc dù bị đảng dân chủ đánh phá kịch liệt, đòi rút quân về tức khắc để đổi tù binh nhưng TT Nixon lúc đó, vẫn cương quyết không tiết lộ lộ trình triệt thoái và giữ nguyên ý định không giải kết với VNCH vì quyền lợi Mỹ.





    2- KISSINGER BÁN ĐỨNG VNCH CHO CS QUỐC TẾ:



    Theo các sử gia, nếu Kissinger thật sự là một nhà thương thuyết giỏi và có lương tâm, ông ta đã vượt qua được những sóng gío trùng trùng lúc đó, mang lại vinh dự cho nước Mỹ và công lý cho VNCH. Lịch sử đã chúng nhận điều này chỉ mới đây trong việc Tổng Thống G.W.Bush trước khi tiến quân đánh Iraq. Nhưng Kissiger chỉ là một học giả chứ không phải là một nhà ngoại giao, một người Do Thái thuần tuý nên không hề biết tới quyền lợi và danh dự của Hoa Kỳ. Trước tiên, về việc cho phép BỘ ÐỘI BẮC VIỆT ở lại miền nam, Kampuchia, Lào được coi như một hành động ngu xuẩn nhất của Kiss



    Thế nhưng Kissinger nơi trang 1488, y đã tự sửa lại là: “người VN và các dân tộc khác ở Ðông Dương, sẽ tự thảo luận để tất cả quân đội ngoại nhập rút ra khỏi Ðông Dương”. Như vậy muốn Hoa Kỳ ngưng oanh kích rút quân, mà không có một đòi hỏi gì cho đối phương, thậm chí còn cho chúng ở lại để tiếp tục làm giặc, thì thương thuyết để làm gì, cho nên sau này Hà Nội và thế giới khinh khi, cười chê Hoa Kỳ là vậy. Ngoài ra chẳng bao giờ Kissinger coi VNCH là một quốc gia độc lập có chủ quyền, nên hắn đã có cái nhìn coi Hà Nội mới là đại diện để thương thuyết với Mỹ. Ðây là một sự phản bội trắng trợn của lời cam kết từ các chính quyền Hoa Kỳ như TT.Kennedy, Johnson, Nixon.. luôn tuyên bố tôn trọng nền độc lập của quốc gia đồng minh.



    Tóm lại với luận điệu lừng khừng, chủ bại, đầu óc lắt léo tàng tàng, kissinger đi phó hội trong một tư thế hèn yếu, rẻ mạt, nên chỉ còn bán đứng VNCH mới mong lấy lại tù binh về. Ngày 25- 5- 1971, để tránh bị kiện tụng vào phút chót, Kissinger đã điện thoại gạt Bunker là chương trình nghị sự sẽ theo đúng bản dự thảo của TT.Nixon và tòa đại sứ Mỹ- Sài Gòn.



    Cũng do lòng tin tưởng trên, nên ngày 3-6-1971, Ðại sứ Bunker đã tường trình với Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu có Kissiger hiện diện, kết quả thương thuyết theo bản dự thảo của TT.Nixon và Toà đại sứ. Trong khi trình bày, Bunker xác quyết là BỘ ÐỘI BẮC VIỆT cùng rút về Bắc khi quân đội Ðồng Minh và Hoa Kỳ triệt thoái. Việc tréo cẳng ngổng này cho thấy, TT Thiệu và Chính phủ VNCH hoàn toàn không được Hoa Kỳ cũng như Kissiger hỏi han hay cho biết một chút gì về vận mệnh tương lai của xứ sở mình. Trước sự kiện trên, Kissimger chẵng những không đính chính mà còn lợi dụng sự không biết gì, để ép TT Thiệu không được tiếp tục đòi hỏi hắn, khi việc BỘ ÐỘI MIỀN BẮC đã được giải quyết.



    Tháng 10/1972 giai đoạn cuối cùng trong bàn hội nghị, Kissinger thay vì cố gắng đạt được những ưu thế cho Hoa Kỳ và đồng minh Nam VN, Kissinger lại tấn công tới tấp TT Nguyễn văn Thiệu và gọi đó là lý do chính trở ngại cho cuộc hoà đàm. Ngày nay dựa vào những tài liệu mật và ngay chính hồi ký của Kissiger, chúng ta mới thấu hiểu sự dối trá và bất lương của y đối với VNCH. Ðó là sự hiểu biết quá kém cỏi về lịch sử VN dù hắn ta luôn tự hào về cái trường đại học luật khoa danh tiếng Havard nay chỉ còn là cái mốt thời thượng. Hèn nhát trước phong trào phản chiến do cọng sản quốc tế dàn dựng, Kissinger đã đánh mất sự thông minh của một nhà ngoại giao, qua mặt dân chúng và chính quyền Hoa Kỳ, phản bội đồng minh đang chiến đấu dũng liệt trước làn sóng đỏ.



    Ngày 1-8-1972, trong cuộc họp mật, Hà Nội bảo với Kissinger là ngoài việc BỘ ÐỘI Ở LẠI, TT Thiệu phải từ chức để thay thế bằng chính phủ liên hiệp. Từ tháng 8- 1972, sự chống đối Mỹ từ chính phủ VNCh đã lên tới cao điểm như không cần đếm xỉa tới thời hạn mà Kissinger ấn định, TT Thiệu không tiếp chuyện với TT.Nixon gọi từ Honolulu cũng như tuyên bố là sẽ không bao giờ từ chức, Chính phủ liên hiệp không bao giờ có.



    20-9-1972 sau chuyến thanh sát tại Quảng Trị điêu tàn đổ nát, vừa được QLVNCH chiếm lại, TT Thiệu về Sài Gòn tuyên bố “ vận mệnh của DÂN TỘC VN phải do đồng bào VN quyết định “ và ông đả tố cáo Kissinger chỉ biết tự mình quyết định tất cả mà không coi VNCH ra gì.



    Ngày 19-10-1972, Kissinger, Bunker họp với TT Thiệu, Phó Tổng Thống Hương và Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia. Theo các tài liệu ghi nhận, cuộc họp đầy căng thẳng và thái độ cuả TT.Thiệu khinh bỉ Kissinger tại cuộc họp mà ai cũng thấy rõ khi tuyên bố hắn ta chỉ là một người trung gian không hơn không kém, quyền quyết định hòa hay chiến là của Sài Gòn- Hà Nội, chứ không phải Hoa Kỳ. Phiên họp chấm dứt nhưng phút chót TT.Thiệu không biết vì một lý do nào đó lại ký nhận vào bản hiệp định..



    Ngày 26-11-1972, Bunker chuyển một lá thơ của Nixon, cho biết nếu VNCH cưỡng lại Hoa Kỳ thì VIỆN TRỢ sẽ bị cúp ngay và tánh mạng tổng thống Thiệu nếu muốn giữ, phải KÝ KẾT.Ðể tấn tuồng kết thúc trọn vẹn, bất ngờ ngày 18-12-1972, Nixon ra lệnh oanh tạc Hà Nội- Hải Phòng và các căn cứ quân sự tại Bắc Việt một cách sấm sét dã man, bất chấp Dân Chủ và phản chiến kêu gào la ó. Ðến lúc này, thì TT Thiệu không tin cũng phải tin là Hoa Kỳ qua lời hứa của Nixon trong mấy chục bức thơ riêng, sẽ dội B52 và can thiệp ngay bằng quân sự nếu Hà Nội phản thùng, tấn công VNCH. Ngày 30-4-1975, Miền nam bị bức tử vì Kissinger, một tên trí thức xuẩn động ngây thơ, có đầu óc thực dân kiêu căng thời Trung cổ. Hắn vì muốn thoả mãn nhu cầu cho bọn siêu quyền lực mà phần lớn gốc Do Thái đang thao túng nước Mỹ và thế giới, cho lũ phản chiến đa số bị bệnh tâm thần vì đồng tình luyến ái, hút sách, ảo vọng, nên đã hại không biết bao nhiêu người đã chết, tan nhà, mất nước trong suốt 34 năm qua, tới nay càng thêm đau khổ tận tuyệt trong cảnh nước mất nhà tan, dân tộc bị Hán hoá tuyệt chũng.



    Theo các sử gia cận đại, thì cái hệ lụy bi thảm mà Hoa Kỳ hứng chịu hôm nay khi phải đối đầu với Hồi giáo cực đoan, Iraq, Iran, Trung Cộng, Bắc Hàn.. cũng như sự phản bội trắng trợn của các đồng minh trung thành lâu đời như Pháp, Ðức, Arab Saudi, Thổ nhỉ Kỳ, Nam Hàn, Phi luật Tân, Nam Dương.. phần lớn đều do chính sách sai lầm có chủ ý của Kissinger khi nắm quyền, hoàn toàn chỉ nghĩ tới Do Thái và bọn siêu quyền lực tư bản, thời nào cũng nắm quyền sinh sát nhân loại.



    Trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai 1955-1975, cộng sản quốc tế Hà Nội đã thu được nhiều thắng lợi qua hai hiệp định Genève 1954 và Ba Lê 1973. Cả hai đều giả mạo do ngoại bang dàn dựng trước cái gọi là tố chức Liên Hiệp Quốc, bất xứng vô thực. Ðây mới chính là một trong những yếu tố then chốt, đã dẫn tới thảm kịch VN mà theo các sử gia đều quy cho Kissinger, tội bán đứng VNCH cho cọng sản Bắc Việt bằng đủ mọi cách dàn dựng lên một hiệp định hòa bình giả mạo, được ký ngày 27-1-1973 tại Ba Lê. Tất cả vở hài kịch trên từ đầu tới cuối chỉ do Hoa Thịnh Ðốn và Hà Nội tự soạn tự diễn mà không hề đếm xỉa tới dân tộc VN.



    Sau năm 1975, tất cả âm mưu đen tối trên lần lượt bị lột trần ra ánh sáng, qua các tác phẩm do chính những nhân vật có liên quan kể lại trong “ Bí mật Dinh Ðộc Lập của tiến sĩ Nguyễn tiến Hưng”, “ Những lá thư của Tổng Thống Nixon gởi Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu”, “Tài liệu của Giáo Sư Stephen Young, chuyên gia tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ”, “ Hồ sơ mật của Hoàng Ðức Nhã, cựu Tổng trưởng Dân Vận Chiêu Hồi kiêm Bí Thư của TT.Thiệu” và mới nhất là tác phẩm “ No peace no honor của Sử gia Larry Berman “.Tất cả đều đồng thanh gay gắt lên án và luận tội Nixon- Kissinger, đã lường gạt cũng như phản bội dân chúng Hoa Kỳ và VNCH.



    Tuy nhiên xác thực hơn hết cũng vẫn là những lời tuyên bố huênh hoang sau năm 1975 của Lê Ðức Thọ, Nguyễn thị Bình, Lưu văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ.. và chính miệng Kissinger qua những hồi ký đã xuất bản như Năm tháng ở Bạch Cung (1979), Niên đại sóng gió (1982) thế nhưng mai mỉa nhất vẫn là Bí Lục Kissinger (The Kissinger Transcripts), trong đó ngoài Ðông Dương bị bán đứng, cả Liên Xô cũng là nạn nhân bi thảm trong canh bạc thời chiến tranh lạnh giữa Mỹ- Trung- Nga.



    Ngày nay qua sự sụp đổ của chủ nghĩa cọng sản, mặt thật của Bắc Việt đang đô hộ VN và cái liêm sỉ của đống núi sách vở trong và ngoài nước viết về cuộc chiến VN, phần lớn nhắm mắt theo tài liệu tuyên truyền của Việt Cộng có sẵn khắp các thư viện quốc tế. Bao nhiêu đó cũng đủ cho ta thẩm định về tính chất phiến diện thiếu công bằng của một số trí thức có bằng cấp cao nhưng cạn kiệt hồn nước và tình người.



    Cũng từ đó để chúng ta, những người dân đen đến lúc phải tỉnh mộng, chấm dứt việc giao phó trách nhiệm đối với non nước và sinh mệnh mình cho bất cứ ai không xứng đáng và tín nhiệm, dù họ đang nhân danh bất cứ một thứ gì. Càng nhớ càng thêm thê thảm tủi nhục cho chính bản thân mình, một dân tộc nhược tiểu, luôn bị bán đứng và dầy vò trong suốt thế kỷ, qua hai cái vỏ quốc gia rồi cọng sản. Bao chuc năm rồi nhưng không bao giờ quên được lời tuyên bố chát chua máu lệ của ông Trần Kim Phượng, đại sứ VNCH tại Hoa Thịnh Ðốn ngay lúc xe tăng Bắc Việt tiến vào Dinh Ðộc Lập trưa 30- 4- 1975:” Làm đồng minh với Mỹ chỉ có chết, tốt hơn nên làm bạn với cọng sản, ít ra còn được che chở và giúp đỡ “.Ðây là lời cảnh tỉnh tha thiết nhất cho những ai còn muốn nhờ ngoại bang để quang phục đất nước.



    Cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai 1955- 1975 kết thúc là thế đó, hơn 60.000 quân nhân Mỹ và Ðồng Minh bỏ mạng, nhiều người khác bị thương, một trăm năm mươi tỷ mỹ kim tiền thuế của dân chúng Mỹ, đổi lấy sự sụp đổ của VNCH bằng một hiệp định chẳng danh dự, do chính Kissinger đạt được. - /-





    TÀI LIỆU THAM KHẢO:



    - văn kiện của UB Liên lạc phục hồi thể chế VNCH

    - Bí mật Dinh Ðộc Lập của TS.Nguyễn Tiến Hưng

    - Kissinger đã bán đứng VNCH cho Hà Nội của TS Stephen Young

    - Không hòa bình, chẳng danh dự của Larry Berman, Nguyễn Mạnh Hùng dịch





    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Tháng 1-2016
    Mường Giang

    https://hon-viet.co.uk/MuongGiang_LamSa ... QuocTe.htm
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: tưởng niệm 50 năm người Việt mất miền Nam Tự Do

Bài viết bởi Hoàng Vân »

          






Vỗ tay trong tù






Ta viết bài thơ không ngày không tháng
Vì ở đây không tháng cũng không ngày
Giả khùng điên ta lần qua cửa ải
Ải hận thù xiềng xích cả đắng cay



Còn hơi thở… ta còn nghe nói láo
Mỗi một câu nghe đến trăm ngàn lần
Thằng nói láo không biết mình nói láo
Đầu không khùng ta chết mất phải không



Tội của ta –với nó – không bao giờ xiết
Bút, tre Trường Sơn. Mực, nước Biển Đông
Nó ngồi viết… từ đời ông tổ nó
Giấy kể tội ta dài hơn Cửu Long



Kệ mẹ nó, nó nói gì nó nói
Ở tù lâu – chai – ta lại thấy vui
Thằng Phạm Tuân nằm trên mây phục kích
Chờ giặc Mỹ vào nhào xuống. Vỗ tay



Hồi mới vào tù nó vỗ tay trước
Ta vỗ tay sau… góp vốn góp lời
Được vài năm quen…ta vỗ tay trước
Nó vỗ tay sau… mới thật tức cười



Cứ như thế… ta không ngày không tháng
Biết ngày biết đêm… nhờ có mặt trời








(Trạch Gầm)

https://hon-viet.co.uk/TrachGam_thoVoTayTrongTu.htm


          
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: tưởng niệm 50 năm người Việt mất miền Nam Tự Do

Bài viết bởi Hoàng Vân »






  • Đòn thù
    ________________________
    Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích




    Lê Quý Bê, nguyên Thiếu tá Quận trưởng kiêm Chi khu trưởng. Dù là một tù nhân, anh luôn giữ được tác phong một Quân nhân; tuân hành nội qui tuyệt đối, mực thước và ngăn nắp. Anh em tù xem anh như một Niên trưởng đáng kính, mặc dù trong đội tù còn nhiều người lớn tuổi và có chức vụ cũ cao hơn.


    Vóc người tầm thước, vai ngang, trán rộng, thoạt nhìn đã thấy Bê là người trầm tĩnh và nghị lưc. Ðôi mắt to đen núp dưới cặp lông mày rậm quắc thước đủ khiến cho người đối diện nể vì.



    Nhiều mẫu chuyện được truyền miệng thời Bê giữ chức vụ Quận trưởng tại một Quận nổi tiếng mất an ninh trong tỉnh QN. Anh thành lập một toán quân“Ðặc nhiệm” trang phục bộ bà ba đen và mũ tai bèo. Vào những đêm tối trời, Bê đích thân chỉ huy đội quân giả dạng ấy đi phục kích hay lùng sục các thôn ấp có nhiều gia đình bị tình nghi tiếp tế cho Cộng sản. Với chiến dịch đó, bọc VC nằm vùng bị quét sạch.


    Từ đó, Bê đã bình định toàn diện các Xã ấp trong Quận. Nền an ninh của địa phương đã phục hồi. Ghe thuyền di chuyển bình yên trên dòng sông có nhiều thổ sản nổi tiếng tại hai miền xuôi và ngược.


    Bọn Cộng sản mất địa bàn hoạt động, mất cả nguồn tiếp tế quan trọng, chúng quyết tâm lấy lại đất, giành lại dân, xây dựng niềm tin cho các cơ sở đã bị phá vỡ. Ðiểm đột khởi đầu tiên của chiến dịch là Quận lỵ của Bê.


    Ðêm mồng 1 rạng ngày mồng 2 tháng 9 năm 1970, bằng một lực lượng chính qui cấp Trung đoàn phối hợp với các đơn vị địa phương, Cộng quân tấn công vào Bộ chỉ huy Chi khu với chiến thuật tiền pháo hậu xung. Những quả đạn pháo kích đầu tiên phát nổ bên góc trái tiền đồn, rồi dồn dập trút xuống trung tâm ngọn đồi quận đường. Lực lượng đồn trú im hơi lặng tiếng. Dân chúng đợi chờ quân ta phản pháo nhưng thất vọng. Họ có cảm tưởng là đơn vị phòng thủ hoàn toàn bị tê liệt ngay trong đợt pháo đầu tiên.


    Ðịch quân cũng đánh giá như thế và pháo lệnh công đồn bắt đầu. Bên Quận lỵ chờ đến thời điểm này, trái sáng của pháo binh diện địa mới bay về tỏa sáng cả bầu trời. Những bóng người đội nón tai bèo, vai khoác khăn dù đồng loạt tiến vào hàng rào phòng thủ thứ nhất. Khi đối phương tràn vào đúng vị trí của các loại mìn định hướng gài sẵn, như một cuộc tập trận, mìn đồng loạt nổ vang. Toán xung kích của địch ngã rạp như cơn bão thổi qua đám lau sậy.


    Lực lượng VC công đồn tiếp tục xung phong đợt hai như những con sóng cố đánh sâp bờ đê. Lần này, chúng vượt qua được hàng rào phòng thủ thứ nhì, vừa tiến vào đúng tầm đạn cá nhân, lực lượng ta đồng loạt nổ súng, thi nhau ném lựu đạn cùng với những tràng đạn từ mấy ổ đại liên đã đốn ngã phần lớn quân địch.


    Trước hỏa lực quá hùng mạnh của quân phòng thủ,Việt cộng lâm vào thế bị động không thể tiến sâu vào mục tiêu được nữa, nên đành phải rút lui. Dù bỏ chạy nhưng quân ta đâu để chúng chào thua dễ dàng như vậy. Các trực thăng chiến đấu lập tức vào trận bằng cuộc truy kích rất ngoạn mục. Chiếc vận tải cơ C123 thả trái sáng yểm trợ như một thiên thần rọi kính chiếu yêu làm bạt vía bầy quỷ đỏ!


    Trời vừa tờ mờ sáng, dân chúng đã ùa vào Quận lỵ. Họ reo mừng khi thấy Bộ chỉ huy Chi khu được bảo toàn và quận đường vẫn đứng uy nghi trên khu đồi lộng gió. Hai mươi hai xác Cộng quân đặt trước sân Chi khu cùng với vũ khí bỏ lại là một chiến thắng lớn lao trong công cuộc bảo vệ niềm tin trong quần chúng. Yếu tố thành công của trận đánh là nhờ tin tức qua mật báo của Nhân dân chính xác cùng với kế hoạch hợp đồng tác chiến khá sít sao. Ngoài ra, tính điềm tĩnh và tài chỉ huy của Thiếu tá Lê Quý Bê cũng vô cùng nổi bật.


    Trước thời điểm tháng Ba năm Bảy lăm, Quận lỵ bị áp lực của quân Bắc Việt nặng nề, nhưng Thiếu tá Bê quyết không bỏ dân, bỏ Quận. Ðến lúc Tiểu khu ra lệnh rút quân về Tỉnh lỵ, Bê mới tuân hành. Trên đường di tản bị Việt cộng truy kích và cả toán quân lọt vào ổ phục kích, anh và đoàn tùy tùng bị địch bắt sống. Chúng ra lệnh cởi giày, anh chống cự. Thế là cả bọn thi nhau nện báng súng vào đầu, vào ngực, máu tuôn xối xả. Với những vết thương trầm trọng, thuộc cấp không hy vọng Bê sống sót, nhưng không ngờ anh hồi tỉnh như có một sức mạnh siêu nhiên nào tiếp cứu.


    * * *


    Những năm tháng trong tù, Lê Quý Bê không hề vi phạm nội qui dù là điều rất nhỏ nhặt. Quản giáo đội thường nhấn vào “điểm nổi bật” đó của Bê để bạn tù theo gương.


    Không phải là một nhà tu hành, nhưng Bê có phong thái đạo mạo như một thiền sư, ăn chay và giữ giới luật nhà Phật rất nghiêm túc. Bê nguyện ăn chay trường từ ngày đơn vị anh chỉ huy đã bẻ gãy trận tấn công của VC vào quận lỵ. Nhìn tử thi của lính Bắc việt, những khuôn mặt măng tơ còn vương nét dại khờ, lòng anh xúc động lạ thường. Họ chỉ là những thiếu niên mười sáu, mười bảy tuổi, cùng lứa tuổi với con anh ngày ngày tung tăng cắp sách đến trường, vòi quà và se sua quần áo mới.


    Hà nội đã lùa cả lứa tuổi thiếu niên đi cầm súng với lời thề sinh Bắc tử Nam. Ðảng đã xiềng chân họ vào những khẩu đại liên, trọng pháo, xe tăng gọi là tình nguyện “Tử thủ vì Tổ quốc, vì Nhân dân”. Chúng đã thể hiện sự ngu ngơ của trẻ con. Khi có lệnh xung phong là dựa vào số đông ào tới mục tiêu tạo nên trận chiến biển người. Khi có lệnh lui binh, chúng chỉ biết cắm đầu chạy càng xa mục tiêu càng tốt như trẻ con chơi trò đuổi bắt. Bê đã chứng kiến cảnh đơn vị mình nã đạn vào lưng họ như ngắm bắn vào những tấm bia người đang di động. Kẻ có tâm Phật nào mà khỏi chùn tay!


    Theo quy định, ba tháng thăm nuôi một lần. Món quà chính của gia đình mang cho Bê là xì dầu, tương chao và muối xào sả ớt. Dầu tằn tiện đến đâu thức ăn chay cũng không đủ, Bê thường xin muối hột từ nhà bếp ăn thêm. Thấy vậy, một số anh em tù biếu ít rau, anh luôn luôn từ chối. Bê nói: “Kiếm được một vài cọng rau rừng là công lao mồhôi nước mắt; nếu Cán bộ bắt gặp, anh em phải chịu bao nhiêu hình phạt”.


    Thật vậy, nhặt mót được ngọn rau, cái củ mà qua mắt được Cán bộ thì đêm đó ấm bụng, không may bị “chộp” thì tù lại vướng vào cái “vòng luân hồi”. Ðây là từ ngữ riêng của tù ám chỉ cái vòng lẩn quẩn của hình phạt vi phạm nội quy về mục “cải thiện linh tinh”.


    Nầy nhé: Nội quy cấm tù cải thiện, vi phạm sẽ bị kỷ luật. Hình phạt thông thường là hạ tiêu chuẩn phần ăn, từ một chén cơm sắn còn nửa chén. Mức ăn như thế còn phải đi lao động nặng thì sức người nào chịu nỗi. Càng đói tù càng phải cải thiện để độn thêm. Và như vậy là tái phạm nội quy. (Cải thiện là vi phạm nội quy bớt tiêu chuẩn phần ăn đói cải thiện vi phạm à...). Cứ như thế mà xoay vần thành một vòng tròn không dứt.


    Anh bạn tù có óc châm biếm không đồng ý cái nhóm từ “vòng luân hồi” nó có vẻ tà phái duy tâm quá. Anh đề nghị thay thế bằng nhóm từ “vòng logic hữu cơ” nó vừa mang tính duy vật vừa hợp thời đại của “đỉnh cao trí tuệ”!


    Bớt tiêu chuẩn phần ăn là biện pháp trừng trị nhẹ nhàng nhất của nội quy. Nhưng đối với tù, đó là hình phạt khủng khiếp nhất. Tiêu chuẩn mỗi bữa ăn là sắn độn cơm vừa đầy một chén B52 (loại chén sắt của Trung cộng). Với phần ăn “chọc ngứa bao tử” còn bị cắt bớt thì tù nào chẳng lo sợ.


    Chính sách của Hà nội chủ trương hành hạ tù chính trị miền Nam. Ðể che mắt thế giới bằng tấm vải thưa: “Khoan hồng nhân đạo”. Sau năm 1975, Phạm Văn Ðồng về thăm Quảng Ngãi đã không giấu giếm nói chuyện huỵch tẹt với đám Cán bộ rằng: ”Bọn ngụy quân, ngụy quyền được Ðảng tha chết là nhân đạo lắm rồi. Ðiều nên nhớ là không được cho chúng nó ăn no, bắt chúng nó phải lao động sản xuất, vợ con chúng nó phải cưỡng bách đi kinh tế mới”.


    Hà nội có kế hoạch rập khuôn theo Liên xô, các Sĩ quan và viên chức phục vụ dưới chế độ Nga hoàng đều bị lưu đày tại Tây Bá Lợi Á. Ðến năm 1979, sự giao hảo giữa chính quyền Bắc kinh và Hà nội lâm vào tình trạng môi hở, răng lạnh nên kế hoạch lưu đày tù chính trị và gia đình tại các vùng trung du Bắc Việt bị bãi bỏ.


    Ðói hành hạ tù ngày lẩn đêm khiến họ ăn bất cứ con vật nào họ bắt được. Cào cào, châu chấu, bọ ngựa, bọ cọp được tù xếp vào nhóm tên “khoa học” mới: “loài tôm rừng”. Ốc sên, con mối, và sùng sống trong gỗ mục, xếp vào “món ăn vương giả của Từ Hy Thái Hậu.”Còn thịt chuột, thịt rắn thuộc loại “cao lương mỹ vị”. Dù đã được “phân chất” và “thử nghiệm” thực tiển trên “lâm sàng bao tử” của tù nhưng thỉnh thoảng vẫn bị trúng độc đưa đến tình trạng tử vong do nọc độc của loài bò cọp, rắn rít, ốc ma và nấm độc. Từ đó, tù mới phát sinh ra các loại “chuyên viên cải thiện” có vẻ an toàn hơn nhưng không kém phần nguy hiểm.


    Nguyễn Hát, thuở ngoài đời nổi tiếng hào hoa. Không hiểu áp dụng phương pháp nào mà Hát “tậu” ngoài bà vợ chính còn thêm hai người tình luôn luôn bám chân anh. Nhiều lúc Hát điên đầu vì “chiến tranh” xảy ra các trận đánh ghen một mất một còn giữa các bà. Liên Hiệp Quốc còn có khả năng hòa giải những cuộc xung đột trên khắp thế giới, còn anh chàng Hát nhiều khi bất lực trước những trận xung thiên của các bà. Kinh nghiệm hay nhất của Hát là “thả nổi”, nghĩa là bỏ đi mấy ngày liền để các bà thấm thía nỗi trống vắng rồi tự giảng hoà với nhau.


    Khi vào tù, người hào hoa năm xưa bị ba bà bỏ quên, chỉ còn cha già tám mươi tuổi thỉnh thoảng lên trại tù thăm Hát. Lần cuối cùng, ông cụ đem cho anh một cuốn kinh Phật bảo: “ Ðã đến lúc con nên tu niệm”. Cụ trao cuốn kinh mà bên ngoài được bọc bằng nhiều lớp bánh tráng ngọt để qua mắt cán bộ. Tay cầm cuốn Kinh mà lòng Hát trĩu nặng.


    Trước mặt cha già anh đã để rơi những giọt nước mắt trên đôi gò má xanh xao. Nước mắt sám hối, nước mắt vì tình đời bội bạc hay nước mắt xót thương cha già? Không biết nữa. Chỉ biết cuốn Kinh phật gần anh không được bao lâu. Sau một lần xét phòng giam, Hát lơ đễnh để quên cuốn Kinh trong ba-lô bị Cán bộ phát hiện và tịch thu. Thế là chàng bị hành hạ suốt một tuần lễ trong nhà cùm với lý do “Tuyên truyền tôn giáo”. Bảy ngày trong hầm kỷ luật, chàng suy niệm và chợt ngộ ra rằng: “ Hễ tình cho quá nhiều thì nhận chẳng bao nhiêu!”


    Hát là một “ma soeur cô đơn” đói lả người quanh năm. Hễ cùng thì tất biến và Hát trở thành “chuyên viên Avec” thượng thặng. Mỗi cuối tuần, Hát chỉ cần xách một cái soong trống không đến gặp anh em vừa được gia đình thăm nuôi xin làm một“ hợp đồng kẻ có của người có công”. Mỗi người góp một món: nếp, đậu hay đường, Hát thì có công đi nấu. Thế là sau một giờ, bốn người quây quần vui vẻ bên nồi chè thơm lừng. Nghề chạy bếp tuy khá vất vả vì phải trốn tránh Cán bộ thường xuyên săn đuổi, nhưng lại đắc dụng cho cái bao tử bị đói bốn mùa của Hát.


    Dân mình có câu “sinh nghề tử nghiệp”, một khi vận rủi nó buộc vào người thì hãy coi chừng có ngày bị lâm nguy bởi cái nghề của bạn đấy. Trường hợp này không rơi vào nghề chạy bếp của anh chàng “Avec” mà rơi vào nghề “đi trên dây tử thần”của anh chàng Tờ...


    Phạm Văn Tờ nguyên là Sĩ quan Tiếp liệu Sư đoàn Không quân, thân cận với giới có cánh mà vẫn không thoát được trong ngày “vỡ tổ”. Tờ thuộc loại lớn con, dềnh dàng. Trước khi vào tù anh nặng 80kg, bụng phệ, da dẻ hồng hào bóng mịn. Thuở ngoài đời, bữa ăn sáng tệ nhất phải là một tô phở lớn kèm ổ bánh mì và ly cà phê sữa đá, vào tù với tiêu chuẩn phần ăn ít oi Tờ không chịu nổi bèn nghĩ ra một nghề độc đáo: “Ði trên dây tử thần.”


    Biệt tài của anh giống như loài nhím, đào trộm củ sắn mà cây sắn vẫn còn xanh tươi. Trong cái túi bao cát của Tờ mang đi làm hàng ngày, có một vật “bất ly thân”. Ðó là thanh lồ ô dài khoảng hai tấc có hình dáng như một lưỡi lê. Nội quy cấm tù nhân cất giữ vật dụng bằng sắt thép nên anh đã tôi luyện thanh lồ ô cho đủ độ cứng và bền bằng cách ngâm bùn và un khói. Thanh lồ ô trở thành con dao có thể gọt, cạo, cắt, xén vừa là một loại thuỗng có thể đào, bới, chấn, moi bất cứ trên vùng đất nào. Anh dùng cây lồ ô đào sâu bên dưới gốc cây sắn, cắt một vài củ rồi lắp đất lại như cũ.


    Khi ra trận có lần nào Tờ tỏ ra “điếc không sợ súng” chứ từ ngày nhập tù anh đã tỏ ra có bản lĩnh “đói không sợ cùm”!


    Ði đêm có ngày gặp ma, chàng chuyên viên “đi trên dây tử thần” lâm nguy rồi!


    Lần này anh gặp ma thật. Ma Giám thị trưởng còn kinh khiếp hơn ma cà rồng chuyên hút máu người. Lão bắt gặp anh đang hành nghề của loài nhím moi trộm sắn. Cái củ sắn tươi quý hơn loại nhân sâm Ðại hàn chưa kịp hồi dương cơn đói Tờ đã bị tống vào nhà cùm.


    Chiều hôm sau, Ban giám thị đem Tờ ra tố khổ trên toàn tổng trại. Từ một củ sắn do chính tay tù phá rừng, đốt rẫy, đào đất trồng xuống, giờ đây Tờ bị kết án ăn cắp sắn của Nhân dân, phá hoại tài sản Xã hội Chủ nghĩa. Mới bị cùm hai mươi bốn giờ mà trông anh tái xanh hốc hác như người bị bệnh lâu ngày.


    Ðứng trên bục cao, hai chân run rẩy, Tờ đọc bản tự kiểm trong cơn thổn thức. Nước mắt anh tuôn thành dòng trên hai gò má trũng sâu. Trong bản tự kiểm, cán bộ buộc Tờ tự xỉ vả mình là: “ Kẻ hèn hạ, không khắc phục được bản thân, còn mang nặng bản chất tư sản hưởng thụ trên sức lao động của người khác. Ðảng đã tha tội chết mà không chịu cải đổi tính tình để trở thành người lương thiện...”.


    Vừa đọc đến đấy, Tờ vứt bản tự kiểm xuống đất. Trong một thoáng bất ngờ, anh cởi chiếc áo tù để lộ tấm thân tàn tạ, vẹo vọ, nhăn nhúm trước mặt mọi người rồi hai tay chụp vào lớp da bụng kéo dài ra cả gang tay. Khi buông ra, da đùn lại thành nhiều lớp xếp vào nhau, giống như đống da bò mới lột. Mắt nhìn thẳng vào đám Cán bộ, anh nói:


    “Ngày mới vào tù, tôi nặng 80 ký lô, bây giờ chỉ còn 40 ký, xin các ông hãy nhìn thẳng vào thân thể nầy đây mới nhận chân được cái đói triền miên của tù cải tạo!”


    Trước cảnh thương tâm, anh em tù không tránh khỏi xúc động. Nhìn vào bộ xương bọc da của Tờ rồi nghĩ đến thân thể của mình thì nào khác gì nhau. Máu uất hận bỗng dưng căng đầy trên mắt người tù. Cả hội trường bắt đầu lao nhao.


    Cái hoạt cảnh bất ngờ ấy kéo dài không quá năm phút đồng hồ. Tức thì, công an bảo vệ bủa vây tràn ngập. Tiếng đạn lên nòng, tiếng chân người chạy rầm rập. Cả toán quân vũ trang súng AK, M16 chĩa thẳng vào đám tù, chuẩn bị một cuộc đàn áp. Chúng ra lệnh từng người đặt hai tay lên đầu, lần lượt rời khỏi Hội trường. Trong giây phút hỗn loạn ấy, Tờ biến mất.


    Sáng hôm sau, xác Tờ được đặt trước cổng trại kèm theo một tấm bảng có ghi dòng chữ:


    “Tên phản động Phạm văn Tờ đã vượt trại, mang ý đồ chống phá Cách mạng, hành hung Cán bộ, bị xử lý”.


    Từ hôm đó, tù nhân bị kiểm soát gắt gao khi nhập trại. Cán bộ tịch thu tất cả thức ăn cải thiện và cấm tù không được đến gần nhà bếp. Tiêu chuẩn quà thăm nuôi cũng bị giới hạn khắc khe 3 ký lô cho một lần tiếp tế. Cấm mang vào trại các thức ăn khô...


    Riêng Lê Quí Bê bị gọi lên Ban giám thị viết kiểm điểm về việc ăn chay vì họ cho đó là hình thức truyền giáo; mà tuyên truyền tôn giáo là vi phạm nội quy nặng nề. Chúng cấm anh nhận những thức ăn chay của gia đình mang vào và buộc anh phải ăn theo tiêu chuẩn của nhà bếp.


    Thực đơn trường kỳ của tù là món canh cải “toàn quốc” với ít mắm nêm hay mắm ruốc. Thỉnh thoảng có món lá sắn luộc xào mỡ. Theo viện phân chất thuộc “Đỉnh cao trí tuệ đảng ta” thì mức bổ dưỡng của 6kg lá sắn tươi bằng 1kg thịt bò. Bởi vậy, đám “Đầy tớ của Nhân dân” luôn luôn nhường lá sắn cho “chủ” là Nhân dân, còn Cán bộ thì khiêm nhường xin lãnh phần thịt bò.


    Những ngày sau đó, Bê vẫn tiếp tục từ chối loại canh có pha mắm nêm hay mắm ruốc, đổi canh lấy muối. Biết được, Ban giám thị cấm nhà bếp cấp muối cho anh.


    Gia đình Bê thăm nuôi ngày mỗi thưa, thức ăn chay thiếu hụt, bạn tù cùng lán thỉnh thoảng biếu anh ít muối đậu hay muối sả nhưng có thấm vào đâu. Dần dà, sức khỏe suy yếu vì thiếu chất muối; đôi chân anh sưng phù không đủ sức đi lao động.


    Ban giám thị đưa anh đi điều trị với điều kiện phải tuân thủ theo quy chế của Bệnh xá.


    Hai ngày sau, Bê bị trả về lại đội, lý do anh từ chối thức ăn của Bệnh xá. Ban Giám đốc trại xem thái độ bất tuân lệnh Y sĩ điều trị là hành động chống đối, nên quyết định biệt giam anh.



    Trong thời gian bị biệt giam, món canh nhà bếp anh không đụng tới chỉ dùng nước lã chan vào cơm. Thấy biện pháp biệt giam không khuất phục được ý chí và quyết tâm của Bê, chúng đưa anh nằm riêng ở một chòi chất tranh, bất chấp quy chế tù nhân bịnh nặng được nằm tại khu cách ly. Chúng theo dõi rất nghiêm ngặt và cấm tù nhân lai vãng gần chòi tranh.


    Sức khỏe của Bê suy kiệt khá nhanh do bệnh phù thủng phát tán toàn thân. Anh phải dùng gậy để lê đôi chân sưng vù bọng nước. Bọn chúng quyết không cho Bê ăn muối, còn Bê thì vẫn bình thản dùng nước lã trộn cơm thay canh. Thời gian sau, chân anh không còn có thể nhắc lên được nữa, nên phải bò đến nhà bếp để nhận cơm.


    Chủ đích triệt hạ tính kiên cường của Bê, bọn Giám thị lý luận: Nó đã từ chối nằm Bệnh xá tức là phủ nhận mình là một bệnh nhân, vì vậy mọi việc nó phải lo liệu.


    Vâng, chính anh đã tự lo liệu. Người tù đầy nghị lực nầy nhờ đức tin đã vượt thắng tất cả. Cái chết đối với anh chỉ là sự giải thoát khỏi thế giới trầm luân này và cũng chỉ có cái chết anh mới thật sự đến được miền tự do vĩnh cửu.


    Thời gian sau nầy, Bê hoàn toàn tịnh khẩu. Cán bộ tra hỏi anh không trả lời. Chúng quát tháo, anh chắp tay niệm Phật.

    Do phải bò nhiều nên hai đầu gối của Bê bị nhiễm trùng, vết thương lở loét bày ra hai đầu xương trắng hếu. Ruồi bọ không ngừng tấn công vào vùng thịt ngày thêm thối rữa. Hàng ngày, anh em tù chứng kiến cảnh Bê lết đi trên đoạn đường đầy đá sỏi như một người ăn xin ngoài đời, lòng mọi người không khỏi tủi hờn.


    * * *


    Giám thị trưởng ít khi đi kiểm tra tận các trại tù trong giờ kiểng chưa báo thức. Sáng nay, sương mù còn phủ dày đặc trong miền thung lũng và bóng đêm còn che khuất những lối đi, lão giám thị đã đi dạo quanh khu trại mấy vòng rồi ghé vào chòi tranh có Bê nằm. Hiện tượng bất thường nầy khiến tù nhân đâm nghi ngờ.

    Khác với thông lệ, giờ lao động sáng nay, đội Thợ Mộc được lệnh xuất trại sớm. Vừa đến nơi, tù đã thấy lão Giám thị có mặt tại đó tự bao giờ. Lão vừa gọi trưởng toán mộc tìm ván để đóng hòm thì tên Y sĩ của trại cũng vừa đến. Hắn hoát mồm báo cáo tù phạm Lê quý Bê đã chết. Ðể chứng tỏ mình thi hành chức năng đúng nghiêp vụ, hắn thêm: “Báo cáo thủ trưởng, em đã phát hiện trên cổ tử thi có một đường bầm tím vắt ngang”.


    Chợt lão giám thị quắc mắt nhìn tên Y sĩ, rồi quát:


    - “Ðủ rồi, không cần đồng chí báo cáo thêm ”.


    Tên Y sĩ quay lưng bỏ đi, anh trưởng toán mộc đưa đề nghị:


    - “Muốn đóng một quan tài phải đo kích thước của người chết.”


    Lão lưỡng lự khá lâu trước lời yêu cầu của Phúc, trưởng toán mộc. Cuối cùng lão chỉ định đích thân anh ta đến đó.


    Phúc cực kỳ sửng sốt khi nhìn thấy Bê nằm chết trên nền đất mà hai chân lại vắt ngang lên cây đà chất tranh. Tròng mắt tử thi gần như lọt ra ngoài hố mắt, hàm răng cắn chặt vào chiếc lưỡi thè lè tím ngắt. Như điều Cán bộ Y sĩ đã báo cáo, trên cổ Bê có một đường bầm tím. Ðây là một trường hợp chết vì bức tử không ai che giấu được. Với tư thế nằm chết như vậy, chứng tỏ Bê đã trải qua một cơn vùng vẫy dữ dội. Nhìn cặp chân mềm nhũn treo đong đưa trên đà gỗ, Phúc biết ngay bọn đồ tể đã bẻ quặp chân Bê trên đà ngang để giảm bớt sức chống cự trước khi dùng thanh sắt đè cổ.


    Vừa bước chân ra khỏi cổng trại, Phúc bị lão Giám Thị Trưởng chận lại hỏi một câu mà chỉ có tù mới hiểu ý:



    - “Tên họ anh là gì? Ở đội mấy? Có thuộc nội quy không?”


    Lão chậm rãi ghi từng chi tiết câu trả lời của Phúc vào cuốn sổ tay. Ðây là nội dung một lời cảnh cáo được ngụy trang:


    - “Nếu không giữ kín những điều đã nhìn thấy thì bản nội quy là dây thòng lọng sẽ siết cổ họng nhà ngươi!”


    Vào buổi trưa cùng ngày, một phái đoàn từ Thành phố đến trại tù gồm đại diện các cơ quan: Tòa án, Công an, Viện kiểm sát, Y sĩ giảo nghiệm và Chuyên viên chụp hình. Trước khi chôn cất nạn nhân, họ thực hiện các thủ tục gian trá mà bạo quyền thường xử dụng để che mắt Nhân dân trong nước và Quốc tế về thủ đoạn tàn ác của chúng. Phần kết luận trong tờ biên bản hẳn nhiên là: “Tù cải tạo Lê Quý Bê cắn lưỡi tự tử”.


    Lê Quý Bê bị bức tử cùng với hàng ngàn tù cải tạo khác do bàn tay của những tên đồ tể xuất thân từ lò Vô-sản chuyên-chính được rải khắp các trại tù. Những viên chức và Chiến sĩ bảo vệ miền Nam tự do bị kẹt lại trong các nhà tù của Cộng sản đã nhận chịu bao đòn thù vô cùng tàn bạo của cường quyền Hà nội. Họ bị sát hại, bị thủ tiêu được ngụy tạo bằng nhiều lý do: phản động, trốn trại, ám sát cán bộ, cướp súng hay tự tử... Một phần khác chết vì kiệt sức, tai nạn lao động, bệnh tật không được điều trị.


    Vì ảnh hưởng độc hại của những năm tháng dài thiếu chất dinh dưỡng, lao động khổ sai và tinh thần bị đàn áp thường trực, khi ra tù nhiều người phát sinh bệnh tâm thần, ung thư, lao phổi, sốt rét, tiểu đường và đủ loại bệnh nan y khác. Người cựu tù chết trong bệnh tật, trong đói nghèo và cô đơn.




    Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích
    https://hon-viet.co.uk/HaoNhienNguyenTanIch_DonThu.htm
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: tưởng niệm 50 năm người Việt mất miền Nam Tự Do

Bài viết bởi Hoàng Vân »








Anh Đi Chiến Dịch
Phạm Đình Chương


Anh đi chiến dịch xa vời, lòng súng nhân đạo cứu người lầm than.
Thương dân nghèo ruộng hoang cỏ cháy.
Thấy nỗi xót xa của kiếp đoạ đầy anh đi.

Không quên lời xưa đã ước thề, dâng cả đời trai với sa trường.
Nam nhi cổ lai chinh chiến hề, nào ai ngại gì vì gió sương.
Hôm nay ruộng đồng trong chiến dịch, kìa sáu chốn miền Đồng Nai lên niềm tin.
Nghe như lúa reo đời sống lành, nghe như đất vui nhịp quân hành.

Anh đi chắc hẳn anh còn nhớ, đôi mắt u uẩn chiều tiễn đưa.
Của người em nhỏ thơ ngây quá, chưa biết cười lên hẹn đợi chờ.

Có những chiều mưa phơn phớt lạnh, đem cả hồn Thu tới lòng người.
Bao nhiêu chàng trai tay xiết mạnh, thầm hẹn ngày về quê Bắc ơi.
Im nghe từ đồng hoang phố phường, còn mênh mang một niềm thương như trùng dương.
Hôm nay có anh miền chiến dịch, ôm súng mơ ngày về quang vinh



Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: tưởng niệm 50 năm người Việt mất miền Nam Tự Do

Bài viết bởi Hoàng Vân »








Về Đây Anh
Nguyễn Hiền & Nhật Bằng


Người ơi ! Nước Nam của người Việt Nam
Vì đâu oán tranh để lòng nát tan
Ðây Bến Hải là nơi ngăn cách đôi tình
Ðứng lên tìm chốn yên vui thanh bình

Người ơi ! sống chi cuộc đời thương đau
Về đây áo cơm đùm bọc lấy nhau
Ðây nỗi lòng người dân tha thiết mong chờ
Cớ sao người vẫn đang tâm thờ ơ

Người về đây sống vui đời thắm tươi
Miền tự do đắp xây cho muôn đời
Nhịp cầu mến thương gieo vương ngàn nơi
Xuân thanh bình rộn ràng muôn lòng trai

Người ơi ước mong ngày tàn chinh chiến
Ðể toàn dân sống trong cuộc đời ấm êm
Ta nhắn gửi về nơi quê cũ xa vời
Hỡi ai lạc bước mau quay về đây



Trả lời

Quay về “Tưởng niệm ngày Quốc Hận 30/04/1975”