Xuân .. Xuân .. Xuân .. Giáp Thìn ...

Trả lời
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: Xuân .. Xuân .. Xuân .. Giáp Thìn ...

Bài viết bởi Hoàng Vân »

          

          
          


          

          


... Mời các bạn góp bài, cùng vui đón ...
... Xuân Giáp Thìn ...



          
          

          
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: Xuân .. Xuân .. Xuân .. Giáp Thìn ...

Bài viết bởi Hoàng Vân »

          




Tết dọc đường uống rượu




Bạn hiền dọc đường mời ta ly rượu
Bạn uống tìm vui, ta uống tìm quên
Quên hết tháng năm, quên mình thân viễn xứ
Nhưng rượu sao dằn bao nỗi nhớ không tên!

Nắng chiều úa như ân tình nhợt nhạt
Đã lỡ rồi sau bao chuyến đò trưa
Tìm kỷ niệm dọc theo bờ biển cát
Sóng vô tình xoá hết dấu chân xưa

Khua nỗi đau đời theo từng nhịp bước
Trăm lần thương không một giận một hờn
Hình bóng cũ chập chờn theo khói thuốc
Cà phê phin đen nhánh giọt u buồn!

Lỡ đò lợi danh, nên đò tình cũng lỡ
Chút bụi phong trần nhuốm tóc bạc lưa thưa
Khách điếm đìu hiu lạnh đời cô lữ
Cạn chén rượu đời, ta đủ đắng cay chưa?



Kha Tiệm Ly
          
https://www.facebook.com/khatiemly1252
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: Xuân .. Xuân .. Xuân .. Giáp Thìn ...

Bài viết bởi Hoàng Vân »

Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: Xuân .. Xuân .. Xuân .. Giáp Thìn ...

Bài viết bởi Hoàng Vân »

  •           





    Truyện truyền kỳ
    Vô chiêu Thần công






    1.
    Hôm qua ngày Sóc, không hẹn mà cao bằng hiền hữu đến kín lều cỏ, hai chiếc chiếu chưa đủ chỗ ngồi. Thù tạc tới lúc nào không biết, và ngủ lúc nào cũng không hay! Khi ánh dương xuyên qua lều rách, hong nóng mặt Thám hoa mới tỉnh dậy!
    Như thông lệ, trước khi rửa mặt, Thám hoa rót môt chén đầy, ực một hơi, gọi là “giải nghễ”!

    Chợt nhìn ra hiên (nhà Thám hoa không có cửa), ngạc nhiên thấy ai treo một túi gấm lớn tự bao giờ; bèn lấy vội xuống mở ra xem thì là một thanh cổ kiếm! Mở túi gấm nhỏ trong đó, thì là hai quyền sách và môt phong thư. Thư rằng:
    • “Đây là bộ VÔ CHIÊU THẦN CÔNG, tuyệt thế kỳ thư có một không hai trong thiên hạ, nay ta truyền lại cho người có duyên. Hãy cố công luyện tập để ngày sau rửa hận nước”.
    Cuối thư có ghi chú’:
    • “Dục tốc bất đạt! Nhà ngươi không nên nôn nóng mà tẩu hỏa nhập ma! Luyện xong chương một mới luyện chương hai; luyện xong quyển thượng mới tới quyển hạ. Chớ quên!”

    Thám hoa vào lều, mở quyển thượng. Trang đầu ghi:
    • “Muốn luyện thành công trước hết phải tự cung!”.
    Thám hoa nhăn mặt vài giây rồi tự nghĩ:
    • “ Ta từ lâu có xài cái “thằng côn đồ” nầy đâu, để cũng vô ích. Nước nhà bị Hung Nô giày xéo. Cứu nước là thượng sách!”

    Nghĩ xong, rút từ từ báu kiếm ra. Ánh thép xanh dờn, mát lạnh.
    Bèn nói với ai đó:
    • - Vĩnh biệt bạn hiền nhe!




    2.
    Chỉ sau 6 tháng luyện tập, Thám hoa bèn lên non thử kiếm. Thiết tưởng khỏi cần diễn tả hiệu quả thần sầu của kỳ thư chi cho mất thì giờ. Thám hoa cả mừng. quyết tâm học hết quyển hạ; bèn giở ra xem. Trang đầu ghi:
    • Quyển thượng dạy; “Muốn luyện thành công trước hết phải tự cung!”,
      nhưng nếu không tự cung thì cũng thành công, chớ lo lắng!”

    Thám hoa buông mình ngồi xuống tảng đá. Tảng đá nát vụn. Công nhận mới luyện xong quyển thượng mà công phu đến mức thượng thừa!



    Cao thám hoa
    (Theo “Chuyện xạo bốn phương”)

              

              

    https://www.facebook.com/khatiemly1252
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: Xuân .. Xuân .. Xuân .. Giáp Thìn ...

Bài viết bởi Hoàng Vân »








Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: Xuân .. Xuân .. Xuân .. Giáp Thìn ...

Bài viết bởi Hoàng Vân »

  •           








    Chuyện Hai Con
    Rồng

    ___________________
    Truyện truyền kỳ (Phóng tác theo một chuyện cổ dân gian Trung Quốc)
    Kha Tiệm Ly








    1.
    Nhà vua đang ngồi trên ngai, đột nhiên bước xuống, đưa mắt đảo quanh chính điện rồi dừng lại nhìn hai long trụ ở hai bên ngai vàng. Quần thần liếc nhìn nhau mà trong lòng hồi hộp lo sợ không biết họa hay phúc sẽ xảy ra đây. Quan Tể Tướng vội quì xuống, hô to:

    - Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế!

    Quần thần như cởi được gánh nặng, đồng loạt quì mọp xuống, hô theo:

    - Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế!

    Lần nầy nhà vua mới quay mặt lại, chầm chậm nhìn những bề tôi trung thành, nhưng vẫn lặng thinh; thong thả trở lại ngai vàng:

    - Chư khanh bình thân.

    Quần thần đứng lên, lại kín đáo nhìn nhau, nhưng không ai dám hé nửa lời. Quan Tể Tướng vừa vòng tay, định tâu điều gì đó, nhưng nhà vua khoát tay nói:

    - Trong bao năm trẫm trị vì thiên hạ, nhờ hồng phúc tổ tiên mà bốn cõi thanh bình. Nay trẫm muốn có cặp phi long treo tại sân ngai (vừa nói nhà vua chỉ hai long trụ), để tán dương công đức tiền nhân, và cũng để các man di thấy đó mà sợ uy thiên tử. Các khanh liệu lẽ nào?

    Quần thần thở phào! Sau phút giây căng thẳng thì lại có người cố nén cười vì ý nghĩ lạ lùng của nhà vua: “Uy thiên tử chỉ dựa vào hai con rồng thôi sao! Đã có hai long trụ rồi, còn vẽ rồng, vẽ rắn chi nữa?”

    Không khí yên lặng đến ngột ngạt. Bỗng một người quì xuống tâu:

    - Tâu bệ hạ! Nếu cặp phi long mà bệ hạ muốn thêu thì hạ thần không dám lạm bàn; nhưng nếu bệ hạ muốn vẽ, thì ngoài lão Hạ, thiên hạ nầy khó kiếm kẻ thứ hai.

    Kẻ vừa tâu là quan ngự y. Nhà vua hơi thất vọng. Vốn không ưa “lão già lùn” nầy, nên ít nhiều mai mỉa:

    - Lão Hạ là ai? Đường Bá Hổ có dám sánh với hắn không?

    - Tâu bệ hạ, hắn họ Hạ, không có tên, cư trú trong một cái hang ở chân Nhạn Sơn. Lúc hạ thần còn là một thầy thuốc vô danh chưa được thánh ân; trong những lần hái thuốc, hạ thần thường ghé lão ấy uống trà…

    Nhà vua bực mình:

    - Trẫm hỏi Đường Bá Hổ sánh với hắn thế nào?

    Quần thần đều lo sợ cho ngự y, nhưng ông ta vẫn bình tĩnh:

    - Tâu bệ hạ, hạ thần dốt nát nên không biết Đường Bá Hổ là ai và có tài gì; nhưng với lão Hạ thì tài vẽ của hắn thần biết rất rõ: Hắn vẽ hoa thì muôn ong ngàn bướm cứ ngỡ là hoa thật nên tranh nhau tìm mật; vẽ cây trái thì chim cứ ngỡ là cây trái thật nên cùng đáp xuống tranh giành; vẽ cọp báo thì thú rừng cứ ngỡ là cọp báo thật nên đạp nhau mà chạy…

    Nhà vua đổi thái độ, nôn nóng:

    - Khanh có thấy hắn vẽ rồng bao giờ chưa?

    - Tâu bệ hạ, hạ thần chưa từng thấy.

    Nhà vua vuốt râu, gật nhẹ đầu ra chiều suy nghĩ…




    2.
    Đúng mười ngày sau, theo lệnh của nhà vua, quan ngự y đưa lão Hạ về triều. Đó là một người tuổi chỉ ngoài độ năm mươi, tóc đen mươn mướt, mắt sáng như sao, mày rậm môi dày, râu hàm giáp tóc, tiếng nói như chuông, trông giống như một hảo hán hơn là người cầm bút! Nhà vua chỉ tay về hai long trụ trước kim ngai:

    - Ta nghe quan ngự y nói nhà ngươi có tài vẽ cỏ hoa muôn thú, vậy ngươi có thể vẽ cho ta hai con rồng trên hai dải lụa để treo hai bên long trụ nầy được chăng?

    Lão Hạ suy nghĩ một lát rồi tâu:

    - Tâu bệ hạ, thảo dân tuy tài mọn, nhưng cũng hết sức làm vừa lòng bệ hạ. Có điều…

    - Nhà ngươi cứ nói!

    - Có điều rồng vốn là vật thiêng, biến hóa khôn lường: Muốn lớn thì bầu trời cũng chật, muốn nhỏ thì chui vô hạt cải cũng vừa. Lại còn vô song uy vũ: Gọi gió thì núi rừng lá đổ cây nghiêng; làm mưa thì đồng bằng hóa thành biển nước. Khi tắm thì biển nổi ba đào, còn chê biển cạn; khi vẫy vùng, trời cuộn cuồng phong, còn giận trời chẳng đặng cao. Bởi vậy, rồng là biểu tượng của đấng chí tôn, không thể dùng những loại lụa tầm thường mà vẽ được.

    Nhà vua nghe mấy lời như mở cả tấm lòng, sau tràng cười thích chí, nhà vua hỏi:

    - Ý khanh thế nào?

    - Tâu bệ hạ, trên ba ngàn thước cao, núi Thiên Sơn có một vùng có cây băng tang mà chưa ai biết đến. Đã ngàn năm nay chúng đã thọ khí thiêng sông núi. Đêm gội sương trời, ngày tắm dương quang, nên thân to như tùng bách, lá lớn tợ sen, băng tàm to cỡ ngón tay, khi “chín” thì màu đỏ như son, nhộng to bằng cái đấu. Được tơ của chúng thì lụa dệt tha thướt như mây, tỏa ngời ngũ sắc, ban đêm lung linh trông tợ ánh bảo châu. Rõ là trên đời có một!

    Dù nóng lòng muốn có sớm hai bức họa rồng, nhưng lời lão Hạ không phải là không có lý, nên nhà vua đành ưng thuận, hẹn với lão Hạ vào Đông Chí năm sau.




    3.
    Đúng hẹn, lão Hạ đến, dáng dấp hơi gầy, thần sắc hơi xanh hơn trước, mái tóc lão lấm tấm những sợi bạc. Nhà vua truyền cho ngồi trước một bàn dài được cẩn ngọc chạm ngà đặt sẵn tự bao giờ, lão Hạ bày bút nghiên đủ loại, son mực đủ màu. Một vị quan mang ra hai dải lụa, được để trên chiếc mâm vàng, trịnh trọng đặt trước lão Hạ.

    Mọi người hồi hộp chờ đợi.

    Lão Hạ cẩn thận cầm một dải lụa lên quan sát một hồi rồi để nhẹ xuống bàn; đoạn cầm dải lụa thứ hai, cũng đưa lên tận mắt, quan sát càng kỹ hơn; rồi hốt nhiên quỳ xuống dưới chân nhà vua, trước bao cái miệng há hốc kinh ngạc tận cùng.

    Lão Hạ:

    - Bệ hạ thứ tội! Thảo dân không thể chấm bút trên hai dải lụa nầy!

    Nhiều tiếng xì xào trong đám quần thần, thâm tâm họ lo giùm đầu của lão Hạ không còn dính cổ. Nhà vua quát:

    - Nhà ngươi nói thế là sao?

    - Tâu bệ hạ, đây đúng là loại tơ tằm cực quí của Thiên Sơn, nhưng tiếc thay có lẽ là do thời gian cấp bách, nên các người chuyên trách lại làm lẫn lộn vài sợi thao càn (sợi tơ lớn), khiến cho lụa mất đi tính óng ả, mềm mại của những sợi thao lột (sợi tơ nhỏ)!

    Và điều thần không hiểu là tại sao, từ kén của băng tàm, những sợi tơ có thể kéo dài hàng mấy dặm, mà trên hai dải lụa nầy lại có nhiều mối nối: điều nầy làm cho nó khó tránh khỏi nét thô tục, vụng về! Nếu thảo dân cứ đặt bút vẽ bừa, chẳng phải là mang tội với bệ hạ hay sao? Cúi xin thánh ân lượng xét!

    Lão Hạ nói xong, trình cho nhà vua xem. Xem xong, vua lại đưa cho quần thần. Mọi người hết lời thán phục sự tinh tường của lão Hạ.

    Theo thỉnh cầu của lão Hạ, nhà vua đành chấp nhận thêm hai mùa đông tới!




    4.
    Rồi ngày ấy cũng đến! Quì trước sân rồng là một người tóc trắng như bông, khí thần hốc hác, chiếc gậy trúc được để kề bên. Nhà vua động lòng:

    - Sao chỉ mới hai năm mà trông khanh tiều tụy như vậy?

    Sau vài tiếng ho, Hạ đáp:

    - Tâu bệ hạ! Người nghệ sĩ luôn đổ tâm huyết vào tác phẩm của mình, dù tác phẩm ấy chỉ để thưởng thức bên chung trà chén rượu; huống chi là một tác phẩm để đời! Người nghệ sĩ có lòng tự trọng, cũng không thể vì quyền lực hay chén cơm manh áo mà chấm bút phóng bừa; xem tác phẩm là phương tiện đạt tới vinh hoa, mà bất chấp búa rìu dư luận! Thảo dân một đời cầm bút, kinh tởm sự đê hèn của những kẻ tự xưng là thi sĩ, văn nhân, mà lại quì mọp mình để uốn cong ngòi bút hầu cầu hưởng lợi lộc nhất thời mà lưu tiếng xấu trăm năm! Bấy lâu thảo dân nghĩ về hai con rồng của bệ hạ, mà tổn hao nguyên khí, hình vóc gầy mòn, tóc trắng như sương, âu cũng xứng đáng thôi.

    Hơn cả lần trước, nhà vua cho trên án thắp trầm hương, dưới thềm rải hoa lan trắng. Truyền cho chính Tể Tướng nâng chiếc mâm vàng, trên để hai dải lụa. Lão Hạ đón nhận, rồi cũng quan sát kỹ càng như hai năm trước, đoạn reo lên:

    - Phi thường xảo diệu! Rõ là trên đời có một không hai!

    Nhà vua mãn ý, lệnh cho bốn cung nhân mặt ngời như ngọc, căng bốn góc dải lụa cho lão Hạ trổ tài thần thủ. Lão Hạ bày biện họa cụ; nhưng không như lần trước, lần nầy chỉ có một cây bút lớn và một lọ mực đen! Mọi người nhìn nhau trong lúc lão Hạ vén áo, múa tay một vòng rồi chấm bút từ phía trên dải lụa, đoạn kéo thẳng xuống một đường! Nhà vua còn trố mắt, quần thần vẫn há hốc mồm, có kẻ toát mồ hôi, thì lão Hạ sang dải lụa bên kia, cũng xổ xuống một đường y như thế. Đoạn quăng bút, vòng tay trước nhà vua:

    - Tâu bệ hạ! Thảo dân đã xong nhiệm vụ!

    Nhà vua nghiến răng ken két:

    - Nhiệm vụ của ngươi xong, đồng thời mạng ngươi cũng hết!

    Nói xong thét quân lôi lão Hạ ra ngọ môn chém đầu. Lão Hạ nhìn lên trời than:

    - Than ôi! Quyền lực và chân nghệ thật khó thể đi cùng! Ta chết không xứng đáng chút nào!

    Thương thay, quan ngự y cũng bị chung số phận!




    5.
    Từ ấy đến năm năm sau, nhà vua vẫn vào ra phiền muộn. Quần thần bèn khuyên nhà vua nên đi săn cho khuây khỏa.
    Cảnh vật thiên nhiên có sức quyến rũ lạ kì, không mấy chốc làm lòng vua thanh thản, mặt rồng lại rạng niềm vui. Bỗng đến một vùng có đầy hoa dại, hương thơm làm sảng khoái lòng người, bướm đủ màu bay lượn chập chờn, trên cành chim hót líu lo, dương quang ấm áp, gió mát trong lành. Nhà vua hỏi:

    - Đây là nơi nào mà chẳng khác Bồng Lai?

    Một tùy tướng đáp:

    - Tâu bệ hạ! Đây là chân núi Nhạn Sơn. Còn trước mặt là.. là… sơn cốc của lão Hạ.

    Tưởng rằng sau khi nghe hai tiếng “lão Hạ”, nhà vua sẽ nổi lôi đình, nào ngờ vua vẫn thản nhiên, giục ngựa tới. Gần đến sơn cốc, bỗng tùy tướng ghìm mạnh dây cương, hô to:

    - Có mãnh hổ! Hộ giá!

    Trước sơn cốc, hai con cọp lớn đang ẩn mình sau hai khối đá với tư thế rình mồi. Vị võ tướng lắp tên. Vèo một phát, tên ghim ngay yết hầu thú dữ, cùng lúc đó là hàng trăm mũi tên khác vút tới; con còn lại cũng chung số phận. Lạ một điều là chúng không hề gầm thét, giãi giụa như bao con thú bị thương!

    Đoàn người tiến tới, thấy hai con hổ dù bị tên ghim như lông nhím, nhưng thần khí uy phong vẫn toát ra làm họ cũng phải chùn chân! Vị võ tướng xuống ngựa, tuốt gươm cẩn trọng từng bước tiến tới, nhưng khi đến gần xác hổ, lại đứng nhìn một hồi rồi… tra gươm vào vỏ! Thì ra hai mãnh hổ nầy chỉ là con đẻ của nét cọ lão Hạ! Nhà vua ngẫm nghĩ, giọng buồn buồn:

    - Lão ta mượn đôi mãnh hổ nầy để đánh lừa hoang thú! Quả thật tài tình!

    Nhà vua nhìn vào trong, thạch động bụi giăng nhện bám. Bước thêm vài bước, qua một khúc quanh, viên võ tướng cùng nhà vua đồng thoái bộ, tuốt vội gươm ra, vua tôi cùng hoảng hốt la to:

    - Rồng!

    Hai bên vách đá, hai con rồng nhe nanh phóng vuốt như muốn ăn tươi nuốt sống mọi người. Sau khi định thần, thì ra chỉ là hai con rồng được vẽ trên hai dải lụa tầm thường! Đã biết là rồng vẽ, nhưng răng hai hàm trông nhọn như lưỡi kiếm, vuốt bốn chân xem sắc như đao, mình rồng ẩn hiện trong mây. Như có phép thần thông thổi vào người chúng, trông sống động lạ thường: lửa từ miệng rồng như nóng rực, mây che thân rồng như cuồn cuộn tung bay, đầu rồng như lắc lư, chân rồng như phóng tới, thân rồng như lượn qua lượn lại, khi giáng, khi thăng. Mọi người đứng im lìm nào khác cây khô! Bỗng từ đâu một cơn gió nhẹ làm lung lay hai dải lụa, thì hai con rồng như chực phóng ra ngoài! Vua tôi lại lùi một bước thủ thế! Viên võ tướng nói như để chữa thẹn:

    - Tài hoa nầy trên đời không thể có hai!

    Nhà vua than thở:

    - Phải chi năm xưa lão ta chỉ cần vẽ cho ta hai con rồng với nghệ thuật được một nửa nầy thôi, thì hắn đâu bị họa sát thân; mà đất nước nầy cũng không mất một nhân tài!

    Nói đoạn, cùng tiến vào trong. Lại có hai con rồng được treo trên vách đá! Đã chuẩn bị tinh thần từ trước nên vua tôi không còn khiếp sợ. Nhà vua quan sát, thấy hai con rồng nầy thiếu vài chi tiết so với hai con rồng trước, nhưng nét uy phong vẫn đủ mười mươi. Qua lối rẽ kế tiếp, rồi kế tiếp, liên tục đến tám cửa như vậy, mỗi cửa đều có hai con rồng, và lúc nào hai con sau cũng thiếu vài chi tiết so với hai con trước, nhưng thần hồn không khác!

    Vừa bước qua cửa thứ chín, nhà vua thấy trên thạch bàn la liệt nào bút, nào nghiên, nào mực; lớn nhỏ đủ màu buồn bã ủ bụi thời gian. Kế đó là một giường tre được phủ lên một lớp cỏ khô. Góc kia, trên một giá gỗ, lèo tèo hai ba chén đũa, nồi niêu; dưới đó, ba cục gạch với ba hình thù, lớn nhỏ không đều được kê làm bếp. Vài con gián đang ngự trên đó, thấy động vội vã bỏ đi...

    Nhà vua lắc nhẹ đầu, cảm thương cho đời người hàn sĩ tài hoa. Bỗng ngài phát hiện một hộp gỗ ở đầu gường ẩn mình dưới lớp cỏ. Đây có lẽ là vật quí giá nhất của một người sau bao nhiêu năm cầm bút. Nhà vua bèn mở ra, run tay khi thấy hai dải lụa được cuộn tròn để cẩn thận trong ấy, vua bèn nhanh tay giũ xuống một cuộn, rồi giũ luôn cuộn thứ hai: Hai đường mực đen nằm dài trên hai thân lụa, y như hai đường mực đen nằm trên hai dải lụa tại sân rồng gần mười năm về trước!

    Nhà vua rơi phịch xuống giường, ôm đầu rên rĩ: “Hạ hiền khanh ơi! Ý của khanh là thế nào đây?”.

    Đám võ tướng đều ngẩn người nhìn nhau; một vị bạo gan nói:

    - Tâu bệ hạ! Có phải chăng Hạ hiền sĩ muốn nói rằng: “Cái cao diệu nhất của nghệ thuật là đơn giản” chăng?

    Nhà vua nhìn vị võ tướng ấy cười tha thứ, lắc đầu.

    Bỗng một tên quân đến quì mọp dưới chân nhà vua:

    - Tâu bệ hạ! Nếu bệ hạ không bắt tội, phận hèn mọn nầy xin có đôi lời…

    - Cứ nói!

    - Nhưng kẻ hèn mọn nầy chỉ muốn thưa riêng cùng bệ hạ!

    Không biết nhà vua rộng lượng từ lúc nào! Ngài liền khoác tay cho mọi người đi ra.

    Tên quân vừa nói xong, long nhan rạng rỡ, chỉ khen một tiếng to: “Hay!” rồi truyền hồi kinh!




    6.
    Nhà vua cho cải táng hài cốt lão Hạ theo lễ đại phu, ban ân cho con cháu ngự y đời đời hưởng lộc. Đổi tên Nhạn Sơn là Hạ Sơn để nhớ ơn người đã vẽ hai con rồng với… hai nét mực dài!

    Từ đó nhà vua trở nên là vị minh quân. Nhưng đến nay, người ta vẫn thắc mắc tên quân ấy đã nói những lời gì với nhà vua tại thạch động Nhạn Sơn? Mỗi người đều bàn theo suy nghĩ của mình, không ai chịu thua ai. Dần dần theo thời gian, mọi chuyện cũng chìm vào quên lãng./.





    https://haibogiay.net/index.php?nv=thov ... n-Rong-973
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: Xuân .. Xuân .. Xuân .. Giáp Thìn ...

Bài viết bởi Hoàng Vân »

          




Uống rượu với Thần Tài và Ông Địa
_________________________




Chẳng thịt mỡ dưa hành, chẳng bánh chưng, bánh hấp,
Chỉ rượu với mấy trái cà, mấy trái dưa leo.
Ngày Tết ngày tư hai huynh chớ chấp,
Đừng hỏi ta sao ăn Tết quá bèo!

Đây rượu khí phách, rượu tình tri kỷ,
Rượu nghĩa đệ huynh trong bốn biển năm hồ.
Rượu mót từng đồng của những người liêm sỉ,
Đâu phải có dễ dàng như cái bọn tham ô!

Bọn ta quen uống rượu tình, rượu nghĩa,
Nên dù cạn bầu mà tình nghĩa chẳng vơi.
Người ta nói "uống mát trời ông địa",
Sao hai huynh đài cứ mãi nhắm môi?

Hằng ngày gặp nhau, mà làm như xa lạ.
Hay rượu pha cồn thần thánh chẳng quen hơi?
Nếu hai vị thích ích ô (X.O), ích ...á .
Thì xin mời, đi chỗ khác chơi!

Ta cứ ngỡ thánh thần chơi đẹp,
Ai ngờ đâu chẳng khác đám âm binh.
Chỉ vì thấy ta trên răng dưới... dép,
Nên phủi đít đi về mà bản mặt nghinh nghinh!

Nè nè!
Bụng ta lép, nhưng lòng ta không lép,
Trách chi hai huynh - đó là chuyện thường tình.
Vì Phật dạy, khi đến thời mạt pháp,
Thì tại chùa quỷ còn vọc chân kinh!




Kha Tiệm Ly
(Trích tuyển tập thơ KTL sắp xb)

          
https://www.facebook.com/khatiemly1252
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: Xuân .. Xuân .. Xuân .. Giáp Thìn ...

Bài viết bởi Hoàng Vân »

  •           







    Phong tục Tết
    của người dân Nam Bộ xưa

    ___________________________
    Kha Tiệm Ly





    Nguyên Đán là ngày Tết truyền thống thiêng liêng và trọng đại của dân tộc; vì thế để đón chào một năm mới, người dân khắp nơi đều chuẩn bị chu đáo. Ở mỗi miền đều có tập quán riêng, tuy nhiên xét về tổng thể thì không khác nhau mấy. Trong bài nầy chúng tôi chỉ nói về phong tục “ăn Tết” của người dân Nam Bộ ngày xưa.

    Từ đầu tháng chạp, cũng là lúc gặt hái xong, nhà nhà đều nao nức chuẩn bị đón mừng năm mới, mà tiếng quết bánh phồng rộn rã là âm thanh báo hiệu đầu tiên; tiếp theo đó là chuối sứ ép phơi khô. Trước kia ở nông thôn bánh mứt từ tỉnh thành về rất hiếm hoi, vả lại người dân thời ấy cũng rất rảnh rang sau vụ lúa (mỗi năm chỉ có một mùa lúa 6 tháng) nên dư thì giờ chuẩn bị đãi khách bằng cây nhà lá vườn; môt mặt là tiết kiêm, một mặt là để các chị khoe tài gia chánh của mình: Bánh phồng nướng và mứt chuối là hai “đặc sản” không thể thiếu của mọi nhà thời ấy. Phần các anh thì nhà cửa cũng bắt đầu dọn dẹp ngăn nắp, sơn phết từ từ; nếu có cây mai trước cửa thì phải lặt sạch lá, và canh làm sao cho đến mồng một thì hoa phải nở rộ. Đến sáng ngày hăm ba đến hăm lăm âm lịch thì tất cả phải tươm tất, nhất là bàn thờ tổ tiên phải coi rôm rả, đẹp mắt với bộ lư đồng được chùi sáng loáng, mâm ngũ quả phải đầy ắp, lọ hoa tươi rói và không thể thiếu một nhành mai.

    Cũng từ hai mươi đến hăm lăm tháng chạp (ít khi trễ hơn), mọi người đi tảo mộ ông bà. Những gia đình có đất rộng thì ông bà được nằm ở một nơi nào đó ngay trong mảnh vườn hay thửa ruộng của mình; còn những người ít đất thì ông bà được nằm ở chòm mả chung (không gọi là nghĩa địa). Cũng nên nói thêm, trước khi quét mộ, mọi người đều phải đem nhang đèn, giấy tiền vàng bạc, trà hay chút rượu thịt đặt trước mộ mà khấn vái để xin phép, vì vô duyên vô cớ mà “động mồ động mả” là điều tối kỵ. Quét mộ xong, người ta phải dằn trên mộ một ít giấy tiền vàng bạc; đây là dấu hiệu để báo với tốp người “chạp mả” biết là mộ nầy đã được quét rồi, (Thực tế mả chưa quét và quét rồi rất dễ dàng phân biệt, nhưng việc làm nầy là do thói quen). “Chạp mả” theo nghĩa được giải thích của bà con là “quét mả từ thiện vào tháng chạp”. Trong những ngày nầy, vì nhiều lý do mà có những mấm mộ không được người nhà chăm sóc (có mả bị bỏ hoang từ năm nầy qua năm khác), thì những thanh niên trong làng, sẵn cuốc xẻng đó, họ … “chạp mả” luôn! Dù là nghĩa cử từ thiện, nhưng trước khi “chạp mả”, họ cũng không quên thắp vài nén hương cung kính khấn vái người quá cố. Đây là một việc làm rất đáng trân trọng và vẫn còn cho tới ngày nay.

    Ngày hăm ba là ngày đưa ông Táo và chư thiên về trời, cũng là ngày đánh dấu Tết đã cận kề. Lễ vật không thể thiếu để đưa ông Táo là chè, tốt nhất là chè trôi nước (sau nầy là thèo lèo, bánh in) Theo bà con giải thích thì ông Táo thích ăn ngọt, hơn nữa là để lúc tâu lên Ngọc Hoàng Thượng Đế, ông luôn nhớ mà nói tốt cho chủ nhà vì vị ngọt còn thừa lại ở lưỡi môi nhắc nhở; có người còn cẩn thận trét chút nước đường ở miệng ông Táo trong bộ hình nhân “ cò bay ngựa chạy” (!). Chè trôi nước cũng không ngoài mục đích mong muốn mọi việc ông Táo tâu rỗi đều trôi chảy như dòng nước (!). Sau ngày đưa ông Táo, bàn thờ ông Táo và “ông Thiên” không được thắp nhang, vì không muốn cho quý ngài bận bịu nhớ về hạ giới trong lúc ở thiên đình!

    Chiều hăm chin Tết là mọi việc chuẩn bị phải hoàn tất để sáng hôm sau làm lễ rước ông bà. Nhìn bàn thờ tổ tiên, người ta có thể đánh giá được thành bại của gia chủ trong năm qua. Nhưng dù thế nào, trên bàn thờ cũng phải có dĩa trái cây ngũ quả; hồi trước ngũ quả là cam, quýt, bưởi, dừa, xoài với ý nghĩa tượng trưng sự sung mãn tròn đầy theo hình dáng chúng. Sau nầy vì kiêng cử âm gọi , nên bà con bỏ cam (cam phận nghèo), quýt (húyt háy), bưởi (bưởi bồng) nên có đổi khác hơn; là mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, tượng trưng theo tên phát âm Nam Bộ của nó : “cầu vừa đủ xài sung”. Có người thay trái sung bằng trái thơm: thơm tho; trái bắp: đều đặn và … “chắc ăn như bắp”. Một cặp “dưa nhứt”, tức dưa hấu loại to nhứt được dán giấy hồng đơn nằm trang trọng hai bên (bàn thờ) tượng trưng cho sự no đầy và nhành mai ở bình hoa tượng trưng cho sự may mắn, dường như nhà nào cũng có.

    Sáng ba mươi là lễ rước ông bà đồng thời rước ông Táo và chư thiên về ăn Tết với gia đình. Mọi nơi thờ phụng như Ông Táo, Long thần Thổ Địa, Thần Tài, Ông Thiên, Phật, thì đơn sơ với bánh tét, hoa quả, nhưng khói hương nghi ngút. Riêng hai mâm cơm dành cho cửu huyền thất tổ và đất đai thì thịnh soạn hơn tùy theo khả năng của gia chủ, nhưng không thể thiếu tô cơm, bánh tét tượng trưng cho sự no đủ, mùa màng đắc lợi; dưa hấu tượng trưng cho sự viên mãn, may mắn; bánh phồng tượng trưng cho sự phát triển dồi dào (“phồng” ra); và chủ yếu vẫn là thịt kho tàu, tượng trưng cho sự vuông tròn (vuông của thịt, tròn của trứng). Mâm cửu huyền được dọn sáu chén, sáu đôi đũa; bàn đất đai thì năm. Mọi nhà cũng không quên dành một mâm đặt ở ngoài sân để dành cho những kẻ xiêu mồ lạc mả, vị quốc vong thân, hay những tiền nhân khai sơn phá thạch. Đặc biệt mâm nầy phải có chén muối, chén gạo; cúng xong thì đem rải bốn phương. Cùng lúc, giấy hồng đơn (cắt từng miếng vuông nhỏ đều nhau) được dán ở cột nhà, cửa tủ, cửa ngõ và cây trái quanh vườn để cho mọi việc sang năm đều thuận lợi.

    Cuối cùng thì ông bà, cha mẹ dặn dò con cháu những điều cần thiết và những kiêng kỵ vào những ngày đầu xuân như tiền bạc và quần áo phải lấy sẵn ra ngoài, vì mồng một mà mở tủ lấy tiền là điều “không nên” (suốt năm tiền cứ ra mà không vô); con cháu không được gây gỗ (năm mới sẽ gây gỗ hoài); với ly tách, chén đũa, nhất là gương soi mặt, cầm nắm cũng phải cẩn thận, không được vuột tay đổ bể (vì chuyện làm ăn sang năm sẽ bị đổ vỡ), trẻ em không được làm gì phạm lỗi để bị đánh đòn (suốt năm bị đánh đòn liên tục). Dù vậy, nhưng nếu lỡ có em nào quậy phá, thì bậc trưởng thượng cũng xí xóa bỏ qua cho những ngày đầu năm được suôn sẻ.

    Chiều ba mươi còn có tục “Tết Giếng”: Gia chủ bày một mâm lễ vật gồm bánh tét, trái cây, trầu cau, hoa quả, nhang đèn ngay bên giếng, van vái tạ ơn … ông bà Giếng đã cho nguồn sống. Sau đó họ múc nước cho đầy vào tất cả dụng cụ chứa nước trong nhà đến tràn trề, rồi dán vào thành giếng một mảnh giấy hồng đơn; điều nầy mang ý nghĩa là “không được mở nắp giếng trước ngày mùng ba để ông bà Giếng nghỉ ngơi”: Trong ba ngày Tết mà “khai giếng” là điều đại kỵ. Song song vào đó, ở trong nhà lu gạo, hũ đường, hũ muối, hành tỏi, đều phải đầy ăm ắp để cho sang năm cái ăn cái ở luôn được no đầy. Tục nầy nhiều nhà vẫn còn duy trì đến tận giờ.

    Cũng trong chiều ngày nầy, cây nêu được dựng lên trước cửa: đó là một cây tre được tiện hết nhánh chỉ chừa một ít ở trên. Trên đầu cây tre người ta thường treo một khánh đất, một giỏ trầu cau, một bầu rượu, một bó lá dứa hay một nhành đa, một lá bùa bát quái để xua đuổi tà ma; những vật vừa nêu có thể thiếu một vài món, nhưng mảnh vải vàng tượng trưng cho áo cà sa của Phật thì không thể không có (nhiều nơi treo mảnh vải đỏ e không đúng lắm). Dựng (thượng) nêu , theo truyền thuyết là để trừ yêu quái trong mấy ngày Tết, đến mùng năm hay mùng bảy thì hạ nêu. Trong dân gian có câu:“Cu kêu ba tiếng cu kêu / Mong cho đến Tết dựng nêu ăn chè”. Có người thượng nêu vào chiều hai mươi ba, viện lẽ ngày đó ông Táo chầu trời, nên ma quỷ thừa cơ lẻn vào nhà; điều nầy sai với truyền thuyết: Khi yêu quái thua trí Phật, chúng phải chạy về biển đông, và Phật cho phép chúng chỉ được về thăm tổ tiên vào ba ngày Tết mà thôi. Trên thực tế, phần đông đồng bào cũng thượng nêu vào chiều ba mươi.

    Tục dựng nêu là nét văn hóa đặc sắc của dân tộc, tiếc thay ngày nay còn tồn tại rất ít ở các vùng quê

    Đến mười hai giờ khuya gọi là “giao thừa”, tức thời điểm từ năm cũ chuyển sang năm mới. Đây là thời điểm trọng đại; mỗi nhà đều có sẵn một mâm bánh trái, hoa quả, nhang đèn dọn trước sân để tống cựu nghinh tân gọi là “cúng giao thừa”.

    Mùng một Tết dù có thức dậy sớm để chuẩn bị cơm canh cúng ông bà nhưng không ai mở cửa trước mặt trời mọc vì sợ ma quỷ lẻn vào nhà. Buổi cúng cơm sáng đầu năm xong thì cả gia đình quây quần ăn uống vui vẻ. Xong xuôi, trẻ con mặc đồ mới “mừng tuổi” ông bà, cha mẹ; em nào cũng vẻ mặt hân hoan khi được trao bao lì xì! Mùng hai, mùng ba ngày ba bữa cũng “dâng cơm” cho tổ tiên y như ngày mồng một vậy. Chiều mùng hai thì mấy chị gói bánh tét để chuẩn bị ngày mùng ba “tiễn (đưa) ông bà”.

    Sáng mùng ba nhà nhà đều “cúng gà ra mắt”. Hỏi “ra mắt” ai thì hầu hết bà con đều … cười trừ, nói “ông bà dạy sao thì mình nghe vậy”. Sau nầy có người giải thích là “ra mắt” ngài Việt Vương Hành Khiển, nhưng lại không dựa vào một căn cứ nào! Đặc biệt gà cúng mùng ba là gà giò; nhưng không phải do ngài Việt Vương Hành Khiển nào đó thích gà giò mà vì qua mấy ngày Tết mọi người đều không còn tha thiết với mọi loại thịt nữa!

    Chiều mùng ba cũng là ngày đưa ông bà. Lễ vật gồm cơm canh như những ngày trước; đặc biệt là những đòn bánh tét to đùng gói ngày hôm qua (có thành ngữ là “bánh tét mùng ba”), để ông bà mang theo cho được no đủ trong suốt cuộc hành trình vạn dặm nước sông (thời khai hoang ông bà đi bằng ghe xuồng)

    Sáng mùng bốn là lễ khai Giếng: Lễ vật y như chiều ba mươi, chủ nhà khấn vái xin ông bà giếng phù hộ cho cả nhà đủ nước sinh hoạt suốt năm và bình an khỏe mạnh; xong, miếng giấy hồng đơn bên thành giếng được gỡ ra, cho phép mọi người múc nước bình thường.

    Tết Nguyên Đán là một phong tục thiêng liêng đầy màu sắc văn hóa của dân tộc. Mấy ai đã từng xa quê mà ngày Tết không về nhà được mới thấy thấm thía nỗi buồn nhớ quê hương, nhớ cha mẹ, họ hàng . Ngày nay, tuy những tục lệ trong những ngày Tết có đơn giản đi nhiều, nhưng nhìn chung những nét cơ bản thì vẫn còn tồn tại, và chúng tôi chắc rằng nó mãi mãi tồn tại theo thời gian.




    Kha Tiệm Ly

    https://haibogiay.net/index.php?nv=thov ... Bo-Xua-998
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: Xuân .. Xuân .. Xuân .. Giáp Thìn ...

Bài viết bởi Hoàng Vân »

Trả lời

Quay về “Chuyên đề”