Anh về Thủ Ðô chúng tôi chờ mong
Với vạn niềm tin với muôn tình thương
Ðiểm tô phố phường người trai áo xanh
Phố hoa pha màu lá rừng
Anh về Thủ Ðô ấm êm lòng tôi
Ðứng lại gần nhau nói câu chuyện vui
Chuyện hai chúng minh gặp nhau chốn đây
Lúc quân dân cùng nắm tay
Ôi nầy anh !
Áo xanh chiến trường bạc mầu
Mến anh mến từ thuở nào
Người trai tranh đấu
Ôi nầy anh !
Ðã mang đến tình mặn mà
Ðón anh những lời thật thà
Lòng dân mong chờ
Anh về Thủ Ðô biết bao là vui
Ðã để lại đây mến thương đầy vơi
Người dân nước Việt ghi ơn các anh
Ðã hy sinh vì giống nòi
Anh về Thủ Ðô nước Nam tự do
Chút quà mừng anh chiến binh đường xa
Là muôn tấm lòng yêu thương đón anh
Ðón anh trai hùng bước qua !
Anh về ………….bước qua !
Anh về Thủ Ðô vui mừng đây đó
Muôn lòng dân đang đón chờ !
Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng
Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian
Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông ta miệt mài
Từng ngày qua
Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam
Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng
Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời
Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời
Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên
Đúng 49 năm về trước vào đêm 03/04/75 sau khi Tuy Hoà bị rơi vào tay cộng sản , những người du kích đang trong cơn khát máu đã bắt tổng cộng là 125 người gồm quân nhân, viên chức VNCH còn kẹt lại trong thị xã Tuy Hoà trói lại và cột xâu chuỗi dẫn đến khu vực Núi Đất thuộc xã Hòa Định, Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (gần mương dẫn thủy số 1, gần nơi Lù Đôi), dùng Ak và trung liên thảm sát tập thể . Trong đó có bạn của tôi là trung uý Nguyễn Văn Nê trưởng cuộc thị xã Tuy Hoà . Tội ác này sẽ là một bí mật lịch sử được che giấu nếu không có người sống sót kể lại . Khi còn bị nhốt ở Trại A30 đám tù nhân chúng tôi đều nghe kể chuyện này . Hiện nay mỗi năm vào những ngày này gia đình của 125 viên chức oan mạng đó vẫn làm đám giỗ trong âm thầm . Dân làng Hoà Định lớp thế hệ trước 75 không ai là không biết chuyện này nhưng không dám nói ra vì sợ bị chụp mũ phản động
Mùa hè đỏ lửa năm 1972 chúng tôi gồm có 54 sĩ quan cấp bậc thiếu uý được tuyển chọn từ 14 tỉnh thị xã trực thuộc vùng II chiến thuật nhận sự vụ lệnh về trình diện Bộ chỉ huy CSQG Khu 02 tại Nha Trang để theo học khoá tư pháp cảnh lại Trung tâm huấn luyện CSQG Khu 2 cây số 08 Cam Ranh . Trung uý Nguyễn Văn Nê và tôi trong số sĩ quan sĩ quan biệt phái này . Hai chúng tôi có ba tháng ở chung phòng trong suốt khoá học . Sau khi mãn khoá tôi đổi về Bình Định còn Trung uý Nê đổi về Tuy Hoà . Đầu năm 1974 tôi từ Bình Định cầm công vụ lệnh về tu nghiệp tại Học Viện CSQG ở Thủ Đức . Tôi lại gặp Trung uý Nê cũng về tu nghiệp tại đây . Chúng tôi có thêm hai tháng sống cùng phòng với nhau trước khi kết thúc khoá tu nghiệp trở về đơn vị . Không ngờ đó là lần cuối gặp nhau và bạn tôi bị thảm sát ngay những ngày đầu Tuy Hoà rơi vào tay cộng sản
Con người được sinh ra đời để sống và để rồi cuối cùng cũng chết theo qui luật sinh lão bệnh tử nhưng trung uý Nê chết không theo qui luật đó mà chết thảm bởi sự khát máu của những người cùng đồng loại với mình . Trong chuỗi thời gian ở tù có những lúc cùng quẫn nhiều khi tôi muốn dùng cái chết để thanh toán nợ đời nhưng nhớ lại ai đó có nói ở đâu dù trước mặt là đường cùng nhưng hy vọng vẫn còn ở khúc quanh . Tôi cố trấn an mình như thế để mà sống sót . Trong dòng cuộc sống bạn có thể quên một người bạn đã từng cùng nhau cười nhưng bạn không thể quên được người bạn đã từng cùng nhau khóc . Giờ đây sau nhiều năm đôi lúc ngồi suy gẫm lại mới thấy rằng đời người khi được sinh ra đều kèm theo một số mệnh . Số mệnh như những viên kẹo đựng trong chiếc hộp . Khi chưa mở ra không biết viên tiếp theo mùi vị gì . Nhưng khi biết mùi vị gì cũng vẫn phải bỏ vào miệng mà nhai . Đó là chấp nhận số mệnh .
Thế hệ của chúng tôi như những con sông từ những ngõ ngách trong vùng quê hương chật chội len lách chảy tràn về phố thị . Để rồi những cơn mưa bão đổ xối xả lên mình đẩy chúng tôi qua vùng biển rộng. Những dòng sông ra biển . Bốn mươi mấy năm sau những dòng sông lạc nhớ về . Trong mỗi lòng sông đều chứa đầy vết cắt của đá sỏi cuộc đời khi nhìn lại
Chuyện tù “cải tạo” của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH
____________________ Trần Đỗ Cung
Một bạn thân ở Montréal Canada vừa gửi cho tôi cuốn Pháp Ngữ Souvenirs et Pensées, viết bởi Bà Bác Sỹ Nguyễn Thị Đảnh và được Bác Sỹ Từ Uyên chuyển qua Việt Ngữ. Bạn lại khuyến khích tôi nếu có thì giờ thì chuyển qua Anh Ngữ theo sự mong muốn của tác giả. Sau khi đọc tôi thấy đặc biệt ở chỗ tù cải tạo này là một chuyên viên tài chính ngân hàng, khác hẳn trường hợp thường thấy của các sỹ quan trong quân lực. Ông Thảo bị đầy đọa sáu năm rưỡi trời để hy vọng moi các hiểu biết của ông về tài sản Ngân Hàng Quốc Gia.
Bà Bác Sỹ Đảnh nay định cư tại Oslo Na Uy là một phụ nữ miền Nam, Tây học. Phu quân Đỗ Văn Thảo cũng là người Nam, sinh ngày 21 tháng 8 năm 1927 tại Gò Công. Sau khi tốt nghiệp Đại Học tại Pháp ông Thảo đã về làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam từ tháng Tư năm 1955. Ông đã giữ chức Giám Đốc Nha Ngoại Viện rồi Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia cho đến ngày 30 tháng Tư năm 1975. Ông bị đi tù cải tạo tháng 6 năm 1975 rồi bị lưu đầy ra Bắc cho đến tháng 9 năm 1980. Đến tỵ nạn chính trị tại Bergen, Na Uy tháng 12 năm 1981, ông tạ thế tháng Giêng năm 2001 tại Oslo, Na Uy vì trụy tim.
Câu chuyện Bà Bác Sỹ Đảnh kể lại về sự tù tội Việt Cộng của đức lang quân cho thấy đặc biệt có ba khía cạnh. Là người Nam thuần túy, là chuyên viên được huấn luyện công phu và chưa bao giờ liên quan đến quân đội. Nhưng Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam đã hành xử như quân xâm lăng, cầm tù những chuyên viên rồi vơ vét của cải đem về như Phát Xít Đức Quốc Xã khi tiến vào Paris. Sự thiển cận của họ đã đưa đến sự kiệt quệ tột cùng cho đến bây giờ vẫn chưa ngóc đầu lên ngang hàng với các nước lân bang. Nay mở miệng mời chào người Việt nước ngoài trở về đem chất xám giúp nước thì thử hỏi có nghe được không?
Câu chuyện do bà Đảnh kể lại trong thời kỳ gia đình bị kẹt vì lỡ chuyến ra đi của tầu Việt Nam Thương Tín. Những ôn tưởng chỉ được ông Thảo thỉnh thoảng nhắc đến vì ông không muốn trải qua một lần nữa những hình ảnh dã man mà ông đã trải qua. Bà hết sức căm nước Pháp đã hùa theo Việt Cộng chỉ vì thù Mỹ đã không giúp họ xâm chiếm lại xứ Việt Nam trù phú sau khi Thế Chiến II chấm dứt. Bất hạnh cho Việt Nam, trong khi cộng sản Nga Hoa chỉ ngầm giúp Hà Nội thì Mỹ ồn ào đổ quân vào làm mất chính nghĩa của chúng ta đã bị nhóm thiên tả và CS cơ hội bóp méo thành chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Bà viết để vinh danh những ai đã trải qua địa ngục trần gian tù cải tạo Việt Cộng. Và cũng để nói lên lời an ủi tới những ai đã bị phân tán ra bốn phương trời, làm cho không những mất gốc mà còn mất cả cá tính nữa.
Bà cùng gia đình bị kẹt lại trong cư xá sang trọng của Ngân Hàng nằm trên đường nhỏ hướng ra cầu xa lộ mới. Bà thấy rõ sự chiến đấu dũng cảm của một Trung Đội Nhẩy Dù với 20 binh sĩ chỉ huy bởi một Thiếu Úy trẻ măng có vẻ mới ra trường. Nhìn các quân nhân rắn chắc, nét mặt kiêu hùng và người chỉ huy Thiếu Úy trẻ nhưng chững chạc, bà đã chia xẻ đồ ăn với họ và có cảm tưởng đã cùng họ chiến đấu. Cuối cùng tất cả quân sỹ đã bị hy sinh một cách tức tưởi.
Bà nói: “Ai dám bảo là quân ta không chịu chiến đấu”? Trong khi ấy những phát súng lẻ tẻ của du kích Mặt Trận Giải Phóng quấy rối giữa những tiếng nổ đại pháo. Ngoài đường một sự hỗn loạn không tưởng tượng được khi bọn hôi của nhào vào các nhà vắng chủ và du kích Việt Cộng ngày càng hung hăng tàn ác.
Rồi ông Thảo phải ra trình diện theo lệnh của quân quản Sài Gòn. Ông thật thà nghĩ rằng vì vợ chồng ông là các chuyên gia thuần túy nên chính thể mới sẽ cần đến những bàn tay xây dựng lại quốc gia. Ông nói với vợ rằng, “Nếu họ không ưa chúng ta thì họ cũng không thể xử tệ với chúng ta. Họ không thể giết hết tất cả”. Một Pol Pot đã làm như vậy, nhưng họ đã thấy là không có lợi gì hết. Tuy nhiên Việt Cộng đã làm những việc tệ hại hơn nhiều. “Chúng tôi không hiểu rõ cái thực tế của cộng sản.
Chúng tôi đã nuôi ảo tưởng rằng cộng sản là một xác tín cao đẹp. Song đem cái xác tín ấy vào đời sống con người bằng võ lực đã làm mất hào quang lý tưởng và thơ mộng. Và như vậy nó trở nên tầm thường, bẩn thỉu, ích kỷ và man rợ”.
Ngày 15 tháng Sáu năm 1975 bà Đảnh đã chở ông Thảo và các con trên chiếc xe VW Variant đến một ngôi trường bỏ không gần Sở Thú. Ông gập một bạn cũ cùng đi trình diện nên thấy đỡ cô đơn hơn. “Khi chia tay tôi nhìn thấy trong ánh mắt anh ấy sự tiếc nuối, lo âu và tình yêu đằm thắm. Anh chưa biết rằng sự chia tay này kéo giài cả hơn sáu năm rưỡi trời. Ánh mắt sâu thẳm ấy theo tôi mãi mãi ngày đêm và không bao giờ tôi quên được. Hầu hết các gia đình đều chịu hoàn cảnh như vậy, không cha, không chồng. Tôi may mắn thuộc thành phần không làm điều gì sai quấy và được đồng sự mến, không phải loại có nợ máu lớn với nhân dân, nên được gọi đi cải tạo trong một tuần lễ”.
Rồi xẩy ra việc vơ vét toàn diện. Tại Bộ Giáo Dục cũ không một cái gì là bị bỏ sót, cục tẩy, cái bút BIC, giấy, tập vở đều bị thu gom chở về Bắc trên các xe vận tải nhà binh đầy ắp. Những cán bộ miền Nam thấy bất bình, “Chúng ta bây giờ thống nhất vậy của cải miền Nam phải được để lại miền Nam vì ở đây cũng cần các phương tiện để xây dựng lại chớ”? Bà nói: “Khi tôi nghĩ dến những đứa con miền Nam đã gia nhập MTGPMN tôi không khỏi khinh bỉ và tội nghiệp. Một số ít có thể là những người yêu nước thật sự tuy nuôi một lý tưởng ngu đần để bị VC xập bẫy. Họ đã làm gì để giúp đỡ quê cha đất tổ? Hay là giúp tay xa lìa sự trù phú, sự phồn thịnh và cả tự do nữa”?
Các cán bộ cộng sản thường vào tư gia mượn những thứ cần dùng. Họ được đối xử tử tế nhã nhặn. Nhưng một hôm một cấp chỉ huy vào nhà. Bà lịch sự rót một cốc nước mát mời thì ông ta túm lấy vai đứa con trai nhỏ bắt húp một ngụm trước. “Tôi đâu có ngu gì mà đầu độc họ ngay tại nhà tôi? Họ ra vào nhiều lần và tôi cảm thấy họ muốn cái gì, có lẽ muốn cái nhà của tôi? Ý tưởng đào thoát manh nha trong đầu tôi. Với sự hiện diện của báo chí và những quan sát viên, nên VC còn tỏ ra dè dặt, không dám ra mặt tham lam áp chế dân chúng. Cũng may là chẳng bao lâu sau cả đoàn quân CS bị chuyển qua Cao Mên”.
Một tháng sau khi trình diện học tập cải tạo không thấy một ai được về nhà. Cậu con trai lớn luôn luôn đạp xe quanh ngôi trường mà cha cậu trình diện thì thấy vắng tanh. Khi đem người trưởng gia đình đi thì tạo ra một không khí bất an và đạt được hai mục đích, vô hiệu hóa người chồng người cha và cùng một lúc kiểm soát được mọi người trong gia đình. Nhiều gia đình chỉ trông cậy vào đồng lương cha chồng đem về hàng tháng thì bây giờ túng quẫn. Và sau hai lần đổi tiền, những người giầu có nay thành nghèo và những ai đã nghèo nay lại càng xơ xác. Sau một tháng quy định chẳng ai được trở về. Thỉnh thoảng có một vài người có lẽ thuộc loại có móc nối hay không nợ máu thấy lẻ tẻ trở về. Một người quen cho biết là chồng bà bị chuyển tới trại Long Thành.
Một loạt xe vận tải nhà binh đến chở các tù nhân đi. Họ không biết là đi tới đâu. Trong đêm tối đến một khu rừng mà họ không biết là Long Thành và bị lùa vào mấy gian trại bằng tre lá và lèn chặt như cá hộp. Ngay sáng hôm sau tù phải bắt tay xây cất các trại giam khác cho những người tới sau. Có cảm tưởng là Việt Cộng không có kế hoạch gì cả, chỉ thực hiện theo nhu cầu xẩy đến và tù nhân phải dựng lấy trại giam cho mình. Mục tiêu quan trọng lúc đó là gom lại và vô hiệu hóa các thành viên của chế độ cũ. Mục đích thứ hai là cách ly quân đội với hành chính. Các cấp hành chính do cán bộ canh giữ còn các quân nhân bị đặt dưới bộ đội và các sỹ quan Việt Cộng canh chừng. Chỗ nào cũng là rừng nên không ai biết được bao nhiêu trại tù rải rác ở đâu.
Mỗi nhà giam có thể lèn chừng 50 tù, mỗi người có được chừng 80 phân để nằm ngủ ngay trên mặt đất. Về đêm phải chịu hơi lạnh của núi rừng và khi mưa phải chịu ướt át. Bà hỏi chồng có nhớ đến cái mùng mà anh cẩn thận gói theo.
Anh nói, “Trong hoàn cảnh ấy mùng đâu có ích gì và một anh bạn khéo tay đã giúp cắt ra may thành một áo trấn thủ dầy dặn với nhiều lớp vải mùng khiến cho anh qua được cảnh rét mướt”! Mỗi đêm có điểm danh trước khi cho vào đi ngủ sau khi cán bộ đã khóa chặt nhà tù.
Đồ ăn thật đơn sơ nhưng còn có gạo nên không bị đói. Cơm được nấu trong các chảo to nên có nhiều cháy là một món ngon mà đứa bé con cô cán bộ nhà bếp luôn luôn chầu chực. “Nhà tôi sực nhớ đến đứa con nhỏ ở nhà mà lòng bồi hồi xúc động”! Vấn đề nước khó khăn hơn vì chỉ có mỗi một cái giếng và khi lao động về phải sắp hàng tắm rửa. Những người lớn tuổi chậm chân nên đến lượt mình thì đã tới giờ điểm danh trở về phòng nên không bao giờ được dùng nước.
Tù phải viết bản báo cáo mỗi ngày, nói rõ những gì bản thân họ đã phạm trước kia và những gì cha hay thân nhân họ đã làm. Nay mới thấy sự ích lợi của các cây bút BIC. Các bản báo cáo trở thành ác mộng của tù nhân. Viết ít chừng nào tốt chừng ấy và phải nhớ những gì đã viết để có thể viết lại những báo cáo sau. Ý đồ của quản trại là bắt tù từ bỏ niềm tin, chối bỏ lý tưởng và gia đình, khinh rẻ chế độ cũ và chửi rủa các cấp lãnh đạo cũ. Thật là khó khăn cho những ai thẳng thắn với những nguyên tắc có sẵn hay những người bản chất hiền hòa không biết chửi bậy. Song viết ngắn quá cũng bị nghi ngờ là thiếu thành thật và tù bị gọi lên hạch hỏi đủ điều, chữa đi chữa lại. Kết quả là tù phạm tội nặng hơn để rơi vào bẫy sửa sai không ra thoát.
Có lệnh cho đi thăm tù. Những người như bà Đảnh là công nhân viên phải có giấy phép của cơ quan ghi rõ lý do nghỉ phép. Và chỉ được đem theo tối đa 5 kí thực phẩm và mỗi gia đình chỉ có ba người được đi thăm. Với bốn đứa con, đem đứa nào đi, để đứa nào lại? Trong khi thăm chồng phải ngồi hai bên bàn dài cùng những người khác, có cán bộ đứng đàu bàn lắng nghe. Phải nói to, không được dùng ngoại ngữ. Vợ chồng trao đổi những vấn đề sức khỏe và kinh tế gia đình, bán chác quần áo cho các bà miền Bắc bây giờ ham chưng diện lắm. Khi hết giờ thăm, tù đứng giậy nhặt gói quà trở về nhà giam. Có người còn bị mắng vì ôm hôn người thân hay căn dặn thêm vài điều. Trong phòng những tiếng òa khóc nổi lên như sóng gió trong cơn mưa bão. “Tôi cố nhịn khóc nhưng khi về đến nhà vào phòng tôi bật khóc lệ tràn như suối”.
Từ tháng 10/11, 1976 bà Đảnh không nhận được thư nào của chồng nữa và biết là chồng không còn ở Long Thành. Từ nay gửi thư cho anh phải qua một địa chỉ mới tại hòm thư A-40 khám Chí Hòa. Thư từ quà bánh tối đa 3-5 kí phải gửi qua một địa điểm ở một ngôi trường không xử dụng nữa. Hai đứa con lớn phải đi thi hành các nghĩa vụ công ích không lương, tối phải tạm trú tại những chỗ nào tạm che mưa nắng. Đã có dấu hiệu chống đối ngầm trong giới trẻ. Nhưng chúng bị răn đe, phải cố gắng theo chỉ thị thì cha anh mới được mau chóng tha về. Thật là xảo trá, lợi dụng lòng thương xót cha anh để ép chúng phục vụ.
Một ngày đen tối nhất của tháng 10 năm 1976, các tù được lệnh đổi trại giam. Đây là lúc cán bộ lục lọi khám xét thủ tiêu mọi chuyện. “Chồng tôi ghi chép nhật ký trong một cuốn sổ tay nhỏ hầu mong kể lại cho con những điều đã trải qua. Anh đã vội vã thủ tiêu cuốn sổ”. Tù đươc chất trên các xe vận tải, tay xích người nọ với người kia. Sau hàng giờ đi vòng vo họ bi lùa xuống hầm tầu thủy và chân bắt đầu bị khóa.Tầu đi ngang qua một khu mà nhìn qua lỗ hổng hầm tầu anh nhận ra cây cầu gần nhà, nơi đây vợ con đang ở, rất gần anh nhưng xa, xa lắm. Nước mắt anh dâng trào, không biết đang đi về đâu, xa Sài Gòn vì đây là Tân Cảng.
Chừng 7 tháng sau cái địa chỉ kỳ quái Chí Hòa, có một người tới gập bà Đảnh nhưng không dám vào nhà. Ngó trước ngó sau, phải trái, rồi anh vội nói, “Chồng chị đang bị giam tại miền cực Bắc. Tôi cũng bị giam ở đó nhưng vì vợ tôi là người Đức nên đã nhờ tòa Đại Sứ Tây Đức can thiệp”. Mắt tràn lệ, anh nói tiếp, “Chị biết chúng bắt tôi và anh làm gì không? Ngày ngày gánh phân bón rau và đó là việc nhẹ dành cho người yếu sức”! Bà bật khóc thảm thiết, ngồi bệt xuống vệ đường rồi anh bạn bỏ đi thật nhanh để khỏi bị nhòm ngó.
“Chồng tôi chẳng phải là một ông lớn tại miền Nam mà cũng không phải là các Tướng Lãnh uy quyền. Nhưng anh thuộc loại có thể khai thác được. Họ muốn biết vàng, đô la hay các kho tàng của miền Nam chôn dấu ở đâu. Họ hạch hỏi khai thác bắt làm việc đều đều, nhưng cho là không thành khẩn khai báo nên đầy ra miền Bắc cộng sản”.
Hầm tầu chật chội với các chất thải vệ sinh của tù nên tạo ra một mùi hôi hám khủng khiếp không tả nổi. Hành trình rất dài không ai nhớ rõ. Sau cùng cũng tới hình như Hải Phòng và chuyển lên các xe tải, chân vẫn xiềng xích. Xe chạy qua một số làng xóm, dân làng đua nhau la ó chửi bới và mọi người biết đây là đất địch. Có các bà chửi, “Đồ Tàu Phù khốn kiếp”! Thì ra họ tưởng là tù binh Trung Quốc.
Cán bộ la to, “Đây không phải là tù binh Trung Quốc”. Nhưng họ cũng không dám bảo là tù miến Nam vì họ sợ phản ứng của dân quê thật thà, thương hại hay cùng chia xẻ nỗi đau buồn. Đêm tới thì đến một ven rừng bát ngát. Tù được tháo cùm và lùa sâu vào rừng rậm, đi bộ dăm bẩy cây số và đến một hàng rào bao quanh một số trại. Các cán bộ vào trại, để mặc tù lo liệu chỗ ngủ qua đêm. Sáng hôm sau tù bỏ tay vào xây cất lấy trại tù cho chính mình.
Đúng 31 tháng Chạp Dương Lịch các gia đình tù nhận được một món quà chính thức cuối năm, một lá thư của thân nhân đang bị giam tại trại Bắc Thái. Ông Thảo không gập lại những bạn tù Long Thành và phải bắt đầu làm quen với các bạn tù mới. Tù được lệnh trao cho một cán bộ gái tất cả tài sản, đồng hồ, bút máy, nhẫn vòng tay, dây chuyền và tiền mặt để được liệt vào một cuốn sổ ghi tên sở hữu. Ông Thảo nhất định không đưa chiếc nhẫn cưới với lý do vì lâu ngày không kéo ra được. Sau khi dùng xà bông mà cũng không xong thì họ văng tục và thôi không thử tháo nữa. Ông nói dù họ có cố rút ra nhưng nếu ông cố ý giữ thì cũng vô hiệu vì ông nhất định không rời cái nhẫn cưới mà ông coi là tượng trưng quý báu.
Ban quản trại đều là người Bắc khắc nghiệt và khó tính. Tù thấy luôn luôn bị theo rõi sát nút. Báo cáo hằng ngày bị phân tách kỹ lưỡng, thảo luận và bị phê bình. Các cán bộ hung dữ và lộng quyền, không ngớt tỏ ra là người chiến thắng. Nhưng đừng lầm tưởng họ thèm muốn những gì chúng ta có, họ thấy chúng ta giỏi hơn họ trên mọi phương diện. Họ luôn khiêu khích, nói xiên nói xỏ, đả kích chê bai và phê bình. Và đây là tình trạng khủng bố tinh thần kinh khủng.
Về phương diện vật chất vì quá đông người nên trong phòng một tiếng động nhỏ cũng vang âm. Một tiếng ho, một cái hắt xì cũng khiến một số tù nhân thức giấc. Nhiều bạn tù trong cơn ác mộng đã rên la, gào khóc. Không ai quên được một bạn già cỡ sáu chục, góa vợ với đứa con thơ dại nên đêm đêm nức nở khi đi ngủ thương xót đứa con bỏ lại miền Nam không ai săn sóc. Giếng nước duy nhất rất gần trại nên phải nấu sôi để uống. “Chồng tôi làm công tác hôi thối gánh phân nên cần tắm rửa mỗi chiều tối. Nhưng nước lạnh cóng khi xối lên người thi da đỏ ửng. Anh còn đùa rằng, “thật may là da và phổi còn tốt”.
Nhưng cái đói thật là kinh khủng. Khi còn ở miền Nam thì nắm cơm còn thực là nắm cơm đầy đủ gạo. Ở đây, cơm phải trộn những hạt bo bo vỏ thật cứng thường phải xay ra để cho súc vật ăn. Một số lớn không muốn hy sinh bộ răng cấm nên phải ngồi nhặt các hột bo bo ra để chỉ còn lại được một muỗng cơm trong bát cơm độn. Nhiều người bị lủng củng tiêu hóa và bị tháo dạ. Cái đói thật khủng khiếp ngày đêm làm cho con người bớt sáng suốt, dảm ý chí và mất óc phán đoán.
“May mắn là cả bốn đội trưởng đều là bạn thân của em tôi. Nếu không nhờ các bạn đó và các y sĩ đồng nghiệp của tôi giúp đỡ thì chắc gì anh đã sống đến ngày được thả”!
“Tôi cố tìm hiểu vì sao mà anh bị giam giữ lâu thế? Phải chăng anh được nhiều bạn tù cảm mến nên anh bị giữ lâu? Anh luôn luôn được gọi lên yêu cầu hợp tác để giúp trại sinh hoạt tốt. Nếu nhận lời thì sẽ được cấp phần ăn như cán bộ, được miễn lao động và hưởng nhiều ưu đãi. Nhưng anh đã từ chối và bị giam giữ lâu hơn”.
Đầu tháng 9 năm 1978 ông Thảo gửi thư về cho biết quản trại đã phổ biến tin cho thân nhân đi thăm và tù được nhận thực phẩm. Ông cũng dặn nếu muốn ra Bắc thì liên lạc với một bà gốc Bắc có chồng cùng bị giam giữ với ông. Bà này biết rành Ha Nội và biết rõ manh mối chạy chọt giấy tờ di chuyển và cũng biết cách xoay xở vé xe lửa khứ hồi. Và từ nay bà Thảo biết các mánh khóe luồn lọt thật mất thì giờ, khó khăn và tế nhị. Tất cả các sự việc đều có thể mua bằng tiền, chạy đúng chỗ và không để lộ ra vì hối lộ là một trọng tội. Đối với bà lại còn khó khăn hơn vì trước kia đã phục vụ ngụy quyền và chồng đang bị tù cải tạo.
Mãi mới xin được giấy phép nghỉ nhưng chưa biết cách nào đi. May thay có một ông bạn có cô em trước làm tiếp viên phi hành cho Air Vietnam cũ và nay còn được lưu dụng bởi hãng Vietnam Airlines mới chưa có ai đủ khả năng thay thế. Cô này rất tháo vát và đã kiếm cho bà một vé máy bay vào tháng 11. Khi ra máy bay với xách đồ ăn khô cô ta đã giới thiệu là dì ruột và đưa bà lên máy bay, căn dặn là đừng tỏ ra sợ sệt quá. “Khi đã lên máy bay, không ai biết được là mình không có quyền xử dụng máy bay và khi về thì đã có người cho phép đi nên không có ai dám cản trở về”.
Khi đến phi trường Gia Lâm nhỏ xíu bà lên xe quân sự chờ đón khách. Bà gọi một xe xích lô đạp về nhà cán bộ giáo dục trẻ Sơn mà bà được bà thủ trưởng Sâm giới thiệu. Cha mẹ Sơn đều là giáo sư Đại Học tiếp bà ân cần và thông cảm. Họ được ở ngôi biệt thự cũ gần hồ Hoàn Kiếm tuy chỉ dược xử dụng có một căn phòng với một cầu tiêu lối cổ. Ông đã cơi lên một gác xép làm chỗ ngủ cho ông và con trai. “Tối đến họ dẹp bàn ghế vào tường và trải một chiếc chiếu rộng dưới sàn cho bà mẹ, cô chị dâu, cháu gái nhỏ và tôi nằm. Trong khi tôi thao thức vì sắp gập chồng sau hơn hai năm xa cách thì ai cũng ngủ ngon lành”.
Khi đợi người hướng dẫn đến bằng xe lửa phải mất ba tuần lễ, bà Đảnh ra phố quan sát thấy các nhóm người bán đồ lậu. Cái gì họ cũng có, phần nhiều là các gói nhỏ đường, trà, cà phê, bao thuốc lá và các thỏi chocolat nhỏ đựng trong các túi xách. Bà mua các gói kẹo chocolat vì mang từ Sài Gòn ra không tiện. Họ nói mua gì cũng có trữ tại nhà vả trả tiền xong là hôm sau họ sẽ giao. Người hướng dẫn cho bà đến nhập bọn ngủ dêm để sáng hôm sau ra ga lúc 5 giờ cho kịp chuyến xe lửa Đông Bắc.
Người đông như kiến, chen lấn lộn xộn và “tôi cùng bà chiếm được hai chỗ trên bực ngoài toa cho đến sau khi qua nhiều ga xép mới mò vào được bên trong để ngồi xệp xuống sàn tầu đầy rác, đỡ nạn bụi khói và mưa phùn giá lạnh”.
Từ trạm xe lửa đi đến vùng Bắc Thái phải dùng xe bò. May thay bà hướng dẫn đã nhanh nhẩu quá giang được một xe chở dầu nhà binh với tiền thù lao nhỏ 20 đồng. Đến ven rừng phải thuê một xe bò tới trại giam qua một con đường gập ghềnh với giá 15 đ một người. Tới cổng trại, một căn nhà lợp tranh thì cán bộ xét giấy và cho hai người một vào ngồi đợi ở một cái bàn nhỏ chữ nhật. Hai mưoi phút sau thân nhân được dẫn ra, yếu ớt, thân hình tiều tụy xác xơ trông thật đau lòng. Cán bộ đứng ở đầu bàn và phải nói to cũng như không được dùng ngoại ngữ. “Tôi không biết được gập anh bao lâu nhưng mục đích tôi là xin phép anh đưa các con trốn khỏi nước. Tôi có bổn phận báo cho anh biết là phải liều lĩnh như tự sát vì chừng 50% đến được bến tự do”. Nhưng làm sao để không cho cán bộ biết?
“Tôi nghĩ cách nói là mẹ con muốn đi vùng kinh tế mới”, thi anh xúc động hỏi lại, “Bộ chúng không đủ ăn sao”? Bà chậm rãi trả lời, “Chúng muốn làm lại cuộc đời mới và gập lại hai bà gì đã đến đó trước rồi”. Ông Thảo suy nghĩ rồi chợt hiểu là chị và em tôi đã định cư ở Âu Châu từ lâu và dặn dò, “Đừng để cho các con bơ vơ, em phải đi với các con còn quá nhỏ”! “Chúng tôi chuyện trò đủ chuyện Sài Gòn trước đây, nhà cửa, tình trạng gia đình thân nhân nội ngoại và anh không thổ lộ gì về hoàn cảnh của anh và số phận hiện tại”.
Sau một giờ thì cán bộ thổi còi chấm dứt thăm nuôi. Các tù nhân đứng lên lượm gói quà và sắp hàng về phòng giam. “Chồng tôi ôm tôi và thì thầm, em phải đi với các con và như vậy trong tương lai có thể dễ tìm lại nhau”. Lần thăm nuôi chỉ có bốn người đi thăm khốn khổ. Không một lời phản kháng hay thất vọng. Nước mắt có chảy cũng trong thầm lặng. Nơi đây hy vọng còn ít hơn ở Long Thành. “Rã rời tôi có cảm tưởng như sống những giây phút cuối cùng và tôi không còn biết tôi là ai nữa. Nếu tôi ra đi cùng các con thì rồi đây ai săn sóc anh, và biết có gặp lại nữa không”?
Chiều về tới Hà Nội, tôi e họ sẽ không cho tôi ghi vé trở về. Cha anh Sơn chở tôi bằng xe đạp ra trạm hàng không. Họ hỏi tôi đủ điều, lý do đi thăm, trú ngụ ở đâu, thấy thủ đô ra sao và đã đi thăm lăng Hồ Chủ Tịch chưa? “Tôi phải vui vẻ tỏ ra mãn nguyện và phải chấp nhận bất cứ cách giả dối nào để về với các con tôi. Tôi đã thành công và được về trên chuyến bay hai ngày sau”. Còn hơn một ngày tôi mướn một xe xích lô đi một vòng quanh Hồ Gươm. Hồ quá nhỏ, nước đen ngòm mà mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Không thấy dấu hiệu hư hại vì oanh tạc chỉ có cây cầu Doumer và đôi chút ở một bệnh viện mặc dầu họ tuyên truyền ầm ĩ là bị phi cơ hủy hoại. Tôi đã nói dối ở trạm hàng không. Tôi đã không đi thăm lăng chủ tịch mà chỉ đi xích lô phớt qua. Không có gì đặc sắc, chỉ là một kiến trúc lạc loài bê tông cốt sắt với các cột lạnh lẽo như trong thời cổ. Nhưng nếu tôi vào trong để nhìn thấy con người mà họ cho là thần thánh thì tôi đã ớn lạnh về sự lọc lừa phản bội của ông ta đã đưa nước nhà vào một cuộc chiến tàn khốc, tạo nên mối chia rẽ toàn dân và cả nước”!
Hà Nội một thành phố cổ kính thì nay đã tiều tụy, không được coi như một bà già mà là một đứa con nít thiếu dinh dưỡng lâu ngày, bụng ỏng, đít eo, chân tay khẳng khiu mang chứng bệnh còm cõi và già nua sớm không phương cứu chữa. “Tôi không muốn những ai đã rời Hà Nội năm 1954 trở lại để thấy sự điêu tàn khắc nghiệt vì tiền của nhân lực đều xung vào chiến tranh. Cha mẹ Sơn cũng như người hướng dẫn tôi đều hình như thổ lộ là họ đã sống qua ngày hướng về miền Nam. Nhưng nay miền Nam đã xụp đổ, thế là hết cả. Cuôc viếng thăm rất có kết quả vì tôi đã nói được với nhà tôi một điều cần thiết. Và tinh thần nhà tôi hình như đã vững hơn, bắt đầu yêu đời hơn và thấy hy vọng”.
Bà Đảnh đã đưa bốn đứa con vượt biển ngày 1 tháng 5 năm 1979 lợi dụng sơ hở vì mải liên hoan ngày lễ. Cả gia đình lênh đênh trên biển cả thì gặp một chiếc tầu chờ dầu Na Uy vớt. Vì vậy khi ông Thảo được thả về thì nhà đã mất và phải tạm trú nhà bà chị. Ông bị các đè ép từ các cơ quan công an phường, quận. Không có hộ khẩu nghĩa là không được phiếu mua thực phẩm và các đồ lặt vặt như thuốc đánh răng. Phải luôn luôn trình diện và đẩy đi vùng kinh tế mới. Nhưng nếu xa Sài Gòn thì làm sao có được tin tức nên ông đã chán nản nghĩ liều đi trốn. Bà Đảnh phải nhắn về xin yên tâm đừng liều mạng vì đã có chương trình bảo lãnh và Cao Ủy tị nạn đã đặt thêm một văn phòng ở Sài Gòn.
Bà gửi về các giấy tờ cho nhiều nơi để khỏi thất lạc.
Cuối cùng, sau nhiều lần chạy chọt khó khăn và nhiêu khê, ông Thảo đã được giấy phép xuất cảnh. Bà Đảnh nói, “Không chối cãi việc Việt Cộng đã trả lại người thân cho chúng tôi. Nhưng họ đã ra sao khi được thả? Một số đông đã chết như anh đội trưởng giúp đỡ tận tình bạn tù. Anh chết tức tưởi trong tuổi hoa niên của cuộc đời. Qua hành hạ thể xác độc địa nhằm triệt tiêu nhân phẩm, Việt Cộng không tàn phá nổi thể xác nhưng đã để lại trong tâm hồn tù nhân nhiều rạn nứt in hằn. Lập trường chính trị, tín ngưỡng, lòng yêu nước không bao giờ xóa tẩy được”. Bà Đảnh kết luận, “Tôi chấm dứt bằng một câu xúc tích của chồng tôi khi anh đặt chân xuống đất Na Uy”: “Chúng tôi vẫn sống, hy vọng của chúng tôi đã đạt được. Tôi đã có vợ con quanh tôi, hạnh phúc tôi tràn đầy. Từ nay các con tôi được bảo đảm tương lai trên một đất nước cao đẹp, tự do như Na Uy mà chúng tôi coi là miền đất hứa”.
Vài cảm nghĩ.- Cộng sản Việt Nam sùng bái Hồ Chí Minh như thánh sống. Ai cũng biết là họ Hồ mạo danh nhóm ái quốc ở Paris khi viết báo Le Paria đã dùng tên chung Nguyễn Ái Quốc (Nguyen le Patriot). Hồ đã từng nộp đơn xin làm việc với Bộ Thuộc Địa rồi đi theo cộng sản Nga để được huấn luyện thành cán bộ Đông Dương Cộng Sản. Khi qua Tầu lại lấy danh tính một người chết để thành Hồ Chí Minh. Không có lấy cái bằng sơ học, chỉ lặp lại những danh từ Sô Viết rồi Tầu Mao, lợi dụng khí thế ái quốc chống Pháp để đổi Việt Minh thành đảng Lao Động Cộng Sản và hãm hại các người yêu nước cũng như nhiều người trong vụ đấu tố.
Ông ta đã học thuộc lòng câu “Hồng hơn Chuyên” của Mao nên cũng nói “Trí Thức là Cục Phân” cho nên khi chiếm Sài Gòn chính trị bộ Hà Nội đã bỏ tù các chuyên viên của miền Nam mà huấn luyện mất bao nhiêu thời gian và công của. Hệt như “bước nhẩy vọt” của Tầu Mao trong kế hoạch sản xuất thép tiểu công trong các làng xã phí phạm bao nhiêu nhân lực đưa đến phá sản kinh tế và môi trường. Cho nên ta thấy các Y Khoa Bác Sỹ phải đi quét chợ và chuyên viên kinh tài như ông Đỗ Văn Thảo bị giam cầm trong nhiều năm. Phí phạm “chất xám” như vậy để cho ba chục năm thống nhất đất nước vẫn lạc hậu. Bây giờ kêu gọi trí thức và “chất xám” trở về xây dựng lại nước thì thật khôi hài và có tin được chăng?
Polei Kleng – Căn cứ Lệ Khánh
________________________ Kiều Mỹ Duyên
Polei Kleng là một ngọn đồi lớn nằm phía Tây Bắc của thành phố Kontum, cách trung tâm thành phố khoảng 22 cây số. Chung quanh Polei Kleng có những đồi thông nhỏ, tạo nên một khung cảnh cao nguyên thơ mộng. Trên đồi Polei Kleng, có căn cứ hỏa lực do quân đội Mỹ thiết lập rất kiên cố. Doanh trại của căn cứ xây theo hình tam giác, hệ thống giao thông hào chìm, nổi với 13 lô- cốt bao chung quanh trại, từ trên máy bay nhìn xuống căn cứ thật đẹp. Căn cứ này cũng mang tên là Polei Kleng, và tên Việt là Lệ Khánh.
Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút về nước, căn cứ này giao lại cho Việt Nam và hiện do Tiểu Đoàn 62 Biệt Động Quân Biên Phòng trấn giữ. Phía Tây Bắc của Lệ Khánh, có một làng Thượng chừng 100 nóc nhà, hầu hết đàn ông Thượng trong làng này là lính của Tiểu Đoàn 62 Biệt Động Quân. Có thể nói hết hai phần ba quân số của Tiểu Đoàn là người Thượng. Đại đội I là đại đội nòng cốt của tiểu đoàn do Thiếu Úy Kchong làm Đại Đội Trưởng. Thiếu Úy Kchong từ Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu do Hoa Kỳ thành lập và huấn luyện, chuyển qua Tiểu Đoàn 62 Biệt Động Quân Biên Phòng. Kchong mới 22 tuổi, anh là một sĩ quan can trường và hành quân rất giỏi.
Chỉ huy Tiểu Đoàn 62 là Đại Úy Bửu Chuyển, dáng người cao lớn, nước da trắng hồng. Một lần Tướng Lam Sơn đến thăm trại, gọi ông theo kiểu Huế: “Mệ Chuyển”. Tiểu Đoàn Phó là Trung Úy Phan Thái Bình, dáng người dong dỏng cao, rắn rỏi, đôi mắt linh động, và các sĩ quan khác của tiểu đoàn như Thiếu Úy Lê Văn Anh, Thiếu Úy Nguyễn Văn Tám đều là những sĩ quan trẻ rất kiên cường.
Lệ Khánh được tổ chức như một làng nhỏ, có bệnh xá khám bệnh cho các gia đình Thượng ở chung quanh trại. Có trường học, thầy giáo là người Thượng. Có trại gia binh, không phải nhà, mà là những căn hầm như công sự phòng thủ, nhưng rộng rãi cho vợ con của một số quân nhân Thượng. Trại cũng có những vườn rau xanh, có câu lạc bộ nằm trên đồi, người trong trại gọi là Câu lạc bộ Mây Trên Đồi.
Trong những ngày làm phóng sự chiến trường ở Cao Nguyên, hôm qua tôi xin theo một chuyến bay nào đó để nhảy xuống Lệ Khánh nhưng bị từ chối. Lý do từ chối là vì sau khi bị đẩy lui trong một cuộc tấn công đẫm máu vào Lệ Khánh, Cộng quân nhất định muốn san bằng căn cứ này, nên mỗi ngày tiếp tục pháo vào căn cứ từ 3 đến 4 ngàn quả đạn đủ loại. Bởi vậy, trực thăng khó có thể đáp xuống được.
Tôi xin thẳng với Trung Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh Quân Đoàn II, nhưng ông cũng từ chối và hứa đợi đến lúc nào tình hình khả quan hơn. Tôi cảm ơn hảo ý của ông và trong lòng tự hứa, không đến được hôm nay, thì cũng sẽ đến một ngày nào đó để gặp và viết về những người chiến sĩ đã đánh những trận đánh để đời trong Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa.
Cộng quân đã pháo vào trại Lệ Khánh suốt tuần nay với hàng ngàn đạn 82 ly và hỏa tiễn 122 ly. Vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 7 tháng 5, sau một đợt pháo dữ dội hơn những ngày vừa qua và kéo dài đến nửa đêm, liền sau đó Cộng quân đã ào ạt xung phong vào ba mặt: Đông, Đông Bắc và Đông Nam của căn cứ Lệ Khánh.
Ngay lúc trận chiến khởi đầu, Đại Tá Nguyễn Văn Đương, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân của Quân Khu II bay trực thăng vòng vòng trên trời, vừa quan sát trận đánh vừa để khích lệ tinh thần binh sĩ. Sau khi liên lạc với Tướng Ngô Dzu, Đại Tá Đương gọi máy cho Đại Úy Bửu Chuyển, Chỉ Huy Trưởng Căn cứ Lệ Khánh, đang chỉ huy trận đánh bên dưới:
– Tất cả Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đang theo dõi sự chiến đấu của anh em. Kể từ giờ phút này, anh đã được Quân Đoàn thăng cấp Thiếu Tá.
Suốt đêm đó, Tướng Ngô Dzu, Đại Tá Lê Quang Bình, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II và ông John Paul Vann, Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn II bay trực thăng trên căn cứ để quan sát những diễn biến của trận đánh.
Từ nửa đêm cho đến 6 giờ sáng, Cộng quân xung phong trên 10 lần, quyết tâm tràn ngập căn cứ này, nhưng cuối cùng phải rút lui, bỏ lại hơn 300 xác rải rác trên khắp các hàng rào phòng thủ. Đến 7 giờ sáng, Cộng quân dội tiếp vào một trận mưa pháo kéo dài hơn một tiếng đồng hồ để mở đầu cho đợt xung phong lần thứ hai. Lần này VC có 20 chiến xa T54 dẫn đầu tràn vào các công sự phòng thủ của những chiến sĩ Biệt Động Quân Biên Phòng đang anh dũng chống trả từ lúc nửa đêm đến giờ chưa một giây ngừng nghỉ.
Một toán 5 chiếc T54 tiến vào từ hướng Tây Bắc đã lọt vào bãi mìn chống chiến xa. Cuối cùng, đợt tấn công thứ hai này, Cộng quân cũng bị thiệt hại nặng nề nên phải rút lui. Và theo những tài liệu tịch thu được tại chiến trường, Cộng quân đã chọn Lệ Khánh để đánh chiếm làm quà kỷ niệm cho ngày chiến thắng Điện Biên Phủ. Bởi vậy một tuần trước đây, địch quân đã gia tăng áp lực chung quanh căn cứ này một cách rõ rệt.
Buổi chiều cùng ngày, lúc 18 giờ 20 phút, Trung Tướng Ngô Dzu bay trực thăng trên căn cứ Lệ Khánh để “gắn lon” Thiếu Tá cho Đại Úy Bửu Chuyển, Chỉ Huy Trưởng Lệ Khánh. Cặp lon Thiếu Tá mới toanh và hai chai rượu champagne được thả từ phi cơ xuống căn cứ. Trung Úy Phan Thái Bình, Tiểu Đoàn Phó cùng 20 chiến sĩ Biệt Động Quân Biên Phòng khác cũng được thăng cấp và tưởng thưởng tại mặt trận.
Tôi nghĩ rằng trong lịch sử chiến tranh của nhiều quốc gia, chắc chưa bao giờ có một cảnh “gắn lon” độc đáo như vậy. Hai bông mai bạc từ trên trời rơi xuống, xuyên qua làn mưa pháo của địch quân, nở trên cổ áo trận của người hùng biên trấn Tây Nguyên.
Ông John Paul Vann là Cố vấn Quân sự Hoa Kỳ của Quân Đoàn II. Ông mang cấp bậc Đại Tá, nhưng vì giữ chức vụ Cố vấn bên cạnh Tư Lệnh Quân Đoàn, nên Bộ Quốc Phòng Mỹ cho ông giải ngũ để khỏi có sự trở ngại về vấn đề cấp bậc. Ông Vann là một cố vấn quân sự có một vị thế và cuộc sống riêng tư rất đặc biệt. Người ta đồn rằng ông là bạn thân của Tổng Thống Nixon, có uy tín ngang với Kissinger, cho nên ông là cố vấn quân sự có nhiều quyền hạn đặc biệt trong những quyết định về sự yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ.
Nhưng miền Nam Việt Nam và cả Hoa Kỳ nói nhiều đến ông, không phải vì chức vụ cố vấn, mà vì đời sống tình cảm riêng tư của ông nhiều hơn. Trong thời gian ở Cao Nguyên này, một người con gái má đỏ, môi hồng đã thay đổi cuộc đời của ông. Sóng gió của mối tình muộn và đầy ngang trái này đã âm hưởng mạnh mẽ đến tận Hoa Thịnh Đốn.
Vào một ngày Cao Nguyên khói lửa ngút trời, ông Vann đã nói lên tâm sự của ông:
– Sau khi tình hình ở Cao Nguyên sáng sủa, tôi sẽ làm đám cưới với nàng. Tôi sẽ ở đây với nàng đến hết cuộc đời tôi, Việt Nam sẽ là quê hương thứ hai của tôi.
Bởi vậy, bạn bè của ông thường nói ông đang phục vụ cho quê hương Việt Nam của ông, chứ không phải ông chỉ làm cố vấn cho một quốc gia bạn. Tôi gặp ông John Paul Vann trong một buổi sáng tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II khi đến đây cùng với một ký giả người Anh của tờ Sunday Times để xin phương tiện ra chiến trường.
(Polei kleng - Căn cứ Lệ Khánh)
Ông Vann khoảng 50 tuổi, dáng người cao lớn, ông không nói tiếng Việt nhưng hình như hiểu tiếng Việt, bởi vì khi nghe một sĩ quan của Phòng Báo Chí Quân Đoàn nói với tôi sáng nay không còn chiếc trực thăng nào cho báo chí, ông Vann đã sốt sắng hỏi tôi có muốn dùng chiếc trực thăng của ông không. Ông vẫn được tiếng là người rất niềm nở với giới ký giả. Tôi đã có lần nhìn thấy chiếc trực thăng riêng của ông Vann trên bãi đáp, trực thăng này sơn màu trắng, mũi nhọn, thân dài, có hình dạng khác hẳn với những chiếc trực thăng của quân đội thường dùng. Chưa được quen biết ông nhiều nên hôm ấy tôi không muốn nhận sự giúp đỡ của ông, cũng một phần tôi nghĩ rằng, một chiếc máy bay đặc biệt như vậy, chắc súng cao xạ và hỏa tiễn phòng không của địch rất thích nhắm vào để bắn hạ.
Sau này, một lần về Sài Gòn, ông có đến tòa soạn nhật báo Hòa Bình thăm tôi, nhưng lúc đó tôi đang đi làm phóng sự ở miền Tây. Ông Vann trước là cố vấn quân sự của Vùng IV, nên ông gọi điện thoại về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV để nhờ những người quen tìm đến gặp và chuyển lời hỏi thăm tôi. Một thời gian sau, tôi nghe tin ông tử nạn vì máy bay bị bắn trong lúc bay thị sát mặt trận ở Cao Nguyên.
Trại Lệ Khánh anh dũng chống trả trước bao nhiêu đợt tấn công của địch quân ròng rã gần một tháng trời. Lần lượt Charlie, Tân Cảnh rồi Dakto thất thủ. Muốn tiến vào Kontum, địch quân phải san bằng Lệ Khánh. Khi mở đầu cuộc tổng công kích vào toàn vùng Cao Nguyên, giai đoạn đầu tiên là một chiến dịch mà Cộng quân đặt tên có tính cách kích động tâm lý là chiến dịch “Poko dậy sóng”. Poko là một dòng sông nằm phía Tây Quốc Lộ 14, cách Lệ Khánh khoảng 7 cây số, cách thị xã Kontum chừng 20 cây số. “Poko Dậy Sóng” lá chiến dịch đánh chiếm một loạt các căn cứ trong vùng Tam Biên, mà Lệ Khánh là điểm cuối cùng.
Một buổi sáng, khi nắng ban mai chưa đủ ấm để làm tan hết sương mù của miền rừng núi, căn cứ Lệ Khánh lại một lần nữa rung chuyển vừa bởi đạn pháo, vừa bởi tiếng động cơ của một đoàn chiến xa T54 của địch quân. Pháo phủ đầu rồi khinh binh của địch theo chiến xa tiến vaò như thác lũ. Địch quân dùng cả những đại pháo cùa ta mà chúng lấy được ở Dakto như đại bác 105 ly, 155 ly đề bắn vào Lệ Khánh.
Thiếu Tá Bửu Chuyển và tất cả chiến sĩ của Tiểu Đoàn 62 Biệt Động Quân không hề nao núng. Đã đội lên đầu chiếc Mũ Nâu, mặc bộ đồ trận màu hoa rừng là đã sẵn sang chờ đợi những giây phút như ngày hôm nay. Và tiểu đoàn đã anh dũng chiến đấu, chiến đấu cho đến giây phút mà người chiến sĩ còn có thể chiến đấu.
Những ngày mở đầu, địch chỉ pháo từ 500 đến 1000 quả 82 ly và 105 ly. Những ngày về sau, cường độ pháo kích tăng lên đến mức khủng khiếp, từ 10 ngàn đến 15 ngàn quả đạn trong một ngày. Đại Tá Nguyễn Văn Đương, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân của Quân Khu II, Đại Tá Nguyễn Bá Thìn, Tỉnh Trưởng Kontum và Tướng Lý Tòng Bá, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh thường xuyên bay trực thăng trên Lệ Khánh, trực thăng nhiều lần đáp xuống nhưng không thể nào thực hiện được. Nhất là Đại Tá Đương, ông lo lắng cho các binh sĩ của ông đang ngày đêm chịu đựng những đợt tấn công nặng nề của địch.
Ngày thứ 20, tính từ ngày đẩy lui địch quân đợt đầu, pháo của địch dội vào tới mức không thể đếm được nữa. Kho đạn căn cứ đã bị cháy. Trung Tâm Hành Quân bị đạn pháo 155 ly phá sập. Đạn dược, lương thực và nước chỉ dự trữ đủ dùng trong 3 tháng. Lệ Khánh hoàn toàn bị cô lập. Không tiếp tế, không tải thương được. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn hỏi trên máy:
– Các anh còn chịu được không?
Thiếu Tá Chuyển trả lời:
– Chúng tôi vẫn chiến đấu.
Mấy ngày sau, toán cố vấn quân sự liên lạc khẩn về Kontum. Một cuộc oanh kích dữ dội do máy bay của Không Quân Mỹ thực hiện để dọn một bãi đáp cấp thời ngay trong trại. Hai chiếc trực thăng loại nhỏ, từ bên ngoài bay luồn vào Lệ Khánh với một độ bay thật thấp để tránh pháo, và không một lời giã từ, toán cố vấn Mỹ trong căn cứ vội vã lên trực thăng bay ra khỏi trại an toàn.
Tiểu Đoàn 62 Biệt Động Quân vẫn tiếp tục chiến đấu. Những người bị thương nặng thì nằm ở bệnh xá. Những người bị thương nhẹ được băng bó rồi tiếp tục cầm súng trở lại phòng tuyến của mình. Vợ con của các binh sĩ cũng được phát súng, phụ giúp quan sát, canh phòng, tải đạn, tải thương…
Có thể nói gần một tháng trời, Lệ Khánh không có ban đêm. Mỗi ngày khi mặt trời khuất bóng, những trái hỏa châu được máy bay thả xuống liên tục soi sáng cả một vùng chung quanh trại. Tướng Lý Tòng Bá đưa một tiểu đoàn Pháo Binh nằm tại hướng Đông Lệ Khánh, bên kia sông Poki, để yểm trợ cho căn cứ này.
Pháo yểm trợ bắn trùm chỉ cách quân trú phòng căn cứ có 20 thước. Xác của địch quân rải đầy chung quanh hàng rào phòng thủ đã hơn 20 ngày nay. Thây người chết sình thối và mùi thuốc súng pha trộn với nhau làm cho Lệ Khánh đầy đặc tử khí.
Từ ngày thứ 20 về sau, Quân Đoàn II cho lệnh Lệ Khánh được xử trí tùy theo tình hình. Liên lạc truyền tin khó khăn vì ăng-ten dù không căng lên được. Các cao điểm chung quanh Lệ Khánh đã bị chiếm và đặt súng lớn. Ăng ten dù căng lên là bị pháo trúng ngay.
Ngày thứ 25, Thiếu Tá Bửu Chuyển và Đại Úy Phan Thái Bình bàn thảo với nhau. Cuối cùng Thiếu Tá Chuyển quyết định rút. Đại Úy Bình đồng ý nhưng cảnh giác:
– Ra là đụng nặng lắm.
Trong suốt thời gian này, Đại Úy Bình nhận xét kỹ và thấy rằng, trong 13 lô- cốt chung quanh trại, chỉ có lô- cốt số 13 là khu vực tương đối ít bị pháo nhất. Bởi vậy Đại Úy đề nghị, nếu rút quân ra khỏi căn cứ, nên ra từ lô-cốt này.
Một hạ sĩ quan thủ kho đạn dược được lệnh kiểm xem còn có bao nhiêu đoạn Bangalo. Còn đúng 13 đoạn. Tất cả tiểu đoàn được lệnh chuẩn bị sẵn sàng, kể cả gia đình binh sĩ. Hành trang gọn và nhẹ, chủ yếu là súng đạn. Tất cả những tài liệu đều được hủy.
Đúng 4 giờ sáng, 3 đoạn Bangalo nối thành một ống dài xuyên qua những lớp hàng rào kẽm gai chằng chịt ở hướng lô cốt số 3. Địch vẫn pháo như mưa vào trại.
Thiếu Tá Chuyển ra lệnh. Tiếng nổ của Bangalo chìm mất trong tiếng pháo ầm ầm của địch. Một ánh lửa xanh biếc bừng lên, cả chục lớp hàng rào kẽm gai đã bị Bangalo xé ra một đường dài.
Thiếu úy Kchong, Đại Đội Trưởng Đại Đội I được lệnh dẫn đại đội mở đường máu tiến ra trước. Thiếu Tá Chuyển cùng Bộ Chỉ Huy theo sau, tiến về hướng Đông. Đại Úy Bình dẫn một cánh với gia đình binh sĩ vừa tiến ra là đánh chiếm ngay một ngọn đồi nhỏ gần đó, phá được ổ đại liên của địch để yểm trợ cho cánh của Thiếu Tá Chuyển. Sau đó hai bên tách ra, cánh của Đại Úy Bình đi về hướng Bắc.
Phi cơ L19 bay quan sát trên cao. Người phi công gọi:
– Nam Bình, anh ở đâu trả lời.
Đại Úy Bình:
– Tôi vừa ra khỏi trại.
Phi công L19:
– Tăng địch đangõ vào trại, đông như kiến.
Đại Úy Bình hét lên:
– Cho bom dập xuống.
Phi công L19:
– Nhận rõ. Chờ xem.
Từng chiếc phản lực theo nhau bay đến. Lượn trên cao vì phòng không của địch như đan lưới. Những cánh chim bằng của Không Đoàn Biên Trấn đã từng vào sanh ra tử nên biết bao kinh nghiệm. Những chiếc phản lực nối đuôi nhau chúi xuống. Những tiếng nổ rung chuyển cả một vùng đồi núi. Lệ Khánh chìm trong biển lửa.
Đại Úy Bình gọi L19 nhờ dẫn đường. Không nghe trả lời, nhìn lên, thấy máy bay đã trúng đạn đang bốc cháy. Một cánh dù bung ra. Cầu cho anh đừng rơi vào tay địch. Ngày hôm sau, khoảng 4 giờ chiều, cánh của Thiếu Tá Chuyển và cánh của Đại Úy Bình gặp nhau. Họ mới rời Lệ Khánh được chừng 5 cây số. Địch bám theo sát, vừa đi vừa đánh. Đàn bà và trẻ con di chuyển rất chậm. Trẻ con khóc nên bị địch theo hoài. Còn chừng hai cây số nửa mới đến sông Poko. Thiếu Tá Chuyển ra lệnh đi tiếp và nói với Đại Úy Bình:
– Anh vẫn theo hướng Bắc và giữ mặt Bắc cho tôi.
Hai cánh quân chia tay. Vừa đi chừng 500 thước thì Đại Úy Bình nghe bên cánh của Thiếu Tá Chuyển có tiếng súng nổ rền. Đại Úy Bình chụp máy hỏi:
– Anh đụng nặng không?
Thiếu Tá Chuyển:
– Tôi bị tụi nó vây rồi.
Đại Úy Bình:
– Cần tôi tiếp không?
Thiếu Tá Chuyển:
– Không. Dẫn anh em đi đi.
Sau đó Đại Úy Bình không còn liên lạc được với Thiếu Tá Chuyển nữa. Và bây giờ cánh của anh bị chận đánh. Hình như ở đâu cũng có địch. Anh dàn quân, vừa đánh vừa di chuyển. Ra tới bờ sông Poko, gặp lúc mùa khô, nước cạn ngang ngực. Cả đoàn người cố băng qua sông. Đại Úy Bình cùng với một toán còn đứng lại trên bờ đánh cản hậu. Một người đàn bà Thượng đai đứa con trước ngực trúng đạn nằm chết bên bờ sông, đứa bé vẫn còn ngậm vú mẹ mà bú sữa. Cái hình ảnh đó làm cho người chiến sĩ kiên cường như Đại Úy Phan Thái Bình cũng thấy tim mình se lại. Anh ra lệnh cho một người lính Thượng ẵm đứa bé đưa qua sông, tìm cách gửi vào một làng Thượng gần đó. Địch đuổi tới, dàn súng cối 61 ly trên bờ bắn như mưa xuống đoàn người đang vượt qua sông. Nuớc sông Poko lúc ấy không dậy sóng, mà nhuộm đỏ bởi máu của đàn bà và trẻ con vô tội.
Bờ bên kia có căn cứ của Liên Đội 385 Địa Phương Quân. Đơn vị này yểm trợ cho đoàn người qua sông. Khi ra đi, cánh của Đại Úy Bình gồm có 360 người. Qua khỏi sông Poko, chỉ còn 97 người. Phần thất lạc, phần chết, phần bị địch bắt. Đại Tá Đương, Đại Tá Thìn và Tướng Bá đã đợi sẵn. Đại Tá Đương ôm chầm Đại Úy Bình an ủi và ngạc nhiên khi thấy Đại Úy Bình vẫn mang lon Đại Úy. Đại Úy Bình giải thích:
– Cặp lon rơi giữa hàng rào nên không lấy được.
Đại Tá Thìn đích thân mở một lon nước ngọt cho Đại Úy Bình, và mọi người vào Trung Tâm Hành Quân nghe Đại Úy Bình thuyết trình diễn tiến trận đánh Lệ Khánh, cùng chỉ rõ những đường nào mà chiến xa của địch có thể tiến vào Kontum. Sau đó Đại Tá Đương gắn lon cho Đại Úy Bình và ra lệnh cho xe đưa 97 người về Kontum, nhưng Thiếu Tá Bình thỉnh cầu:
– Tôi và các anh em đơn vị tôi xin ở lại đây vài hôm nữa để chờ đón những anh em thất lạc. Tôi tin tưởng thế nào cũng có người trở về được.
Những ngày kế đó, bên bờ sông Poko, từ lúc trời còn mờ sươngsớm cho đến tối khi sương mù xuống dày đặc, một người đứng bên này sông nhìn qua bờ bên kia để mong ngóng người về, mặc cho pháo của địch từ bên kia bắn qua. Thiếu Tá Phan Thái Bình vẫn kiên nhẫn đứng chờ trong sương lạnh. Đã ba ngày qua, nhưng ông tin rằng thế nào ông cũng đón được một số anh em. Khi bóng đêm buông xuống, Thiếu Tá Bình nghe có tiếng nước khua động, có người đang lội qua sông. Một, hai, rồi ba, rồi bốn.
Thiếu Tá Bình nép mình sau gốc cây, chờ cho mấy bóng người vừa lên bờ, hỏi nhỏ:
– Biệt Động Quân?
Mấy cây súng châu lại định bắn, nhưng tiếng nói quen qua, một người hỏi lại:
– Đại Úy hả?
Thiếu Tá Bình bước ra. Hai bên chạy ào đến ôm nhau. Một người nói với giọng còn xúc động:
– Em tưởng Đại Úy chết rồi. Núp trong rừng, nghe tụi nó chạy ngang nói với nhau: “Đã giết được thằng tiểu đoàn trưởng và thằng tiểu đoàn phó ác ôn rồi”.
Người này là hạ sĩ quan Truyền Tin của Thiếu Tá Bửu Chuyển, anh kể:
– Thiếu Tá bị thương. Chúng bắt ông đi, ông không chịu đi, bị chúng bắn chết tại chỗ.
Khi địch lục ba-lô trên xác một người lính, thấy bộ đồ trận có gắn lon và bảng tên của Đại Úy Bình và khuôn dấu của tiểu đoàn, nên chúng tưởng tiểu đoàn phó cũng đã tử thương.
Gọi báo tin cho Đại Tá Đương ở Kontum, Thiếu Tá Bình nghẹn ngào:
– Bửu Chuyển chết rồi.
Đại Tá Đương sững sờ, ông hy vọng Bửu Chuyển sẽ về. Nhưng bây giờ ông biết, ông đã mất đi một sĩ quan ưu tú, gan lì nhất trong binh chủng.
Tháng 4 năm 1975, Đại Tá Nguyễn Văn Đương chịu chung số phận với những đồng đội của ông. Sau 13 năm tù cải tạo, ông cùng gia đình đến Hoa Kỳ ngày 26 tháng 5 năm 1992 trong đợt HO10, hai tuần trước ngày tác phẩm “Dai Uy” đưa đến nhà in. “Dai Uy” là cuốn hồi ký dày gần 300 trang của Trung Tá hồi hưu James E. Behnke, viết về cuộc chiến đấu anh dũng của Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đơn vị mà hồi đó, Đại Úy Nguyễn Văn Đương là Tiểu Đoàn Trưởng, Đại Úy James E. Behnke là cố vấn của tiểu đoàn. Cho đến năm 1992, hai người lính bạn cùng chiến đấu với nhau mới gặp lại nhau trên đất Hoa Kỳ, hai người vẫn gọi nhau một cách thân mật là “Đại Úy” như ngày nào họ sát cánh bên nhau, cùng vào sinh ra tử trên chiến trường Việt Nam.
Những tên Việt cộng nằm vùng
______________________ Phan Nhật Nam
Hôm nay, Tôi phải trở lại câu chuyện cũ để xác nhận một điều cay đắng: Chúng Ta đã bị bức hại bởi chính kẻ nội thù ngụy trang trong đội ngũ Chúng Ta – những tên VC nằm vùng.
I – Vụ Thứ Nhứt:
Trong nỗi nhục rã rời sau ngày 30/04/1975, khi lâm cảnh tại những trung tâm đăng ký trình diện hoc tập cải tạo, Chúng Tôi còn phải gánh chịu thêm tình trạng bàng hòang của kẻ bị lừa gạt, khi nhận ra những người hôm qua còn là huynh đệ, bằng hữu, nay thoắt trở thành cán bộ với những y phục xa lạ thô kệch, chiếc nón cối chùm hụp và đôi dép râu quê mùa.
Lẽ tất nhiên những kẻ này không quên đeo trên người khẩu K54 và chiếc băng đỏ. Tôi và Triệt, người bạn cùng khoá, gặp Lưu Thừa Chí (cũng chung khoá 18 Ðà Lạt) trong tình thế bẽ bàng đáng hổ thẹn này. Chí ngồi ghi danh người đến đăng ký với lon Thượng úy – ba ngôi sao và một vạch ngang, địa điểm trường Trần Hòang Quân, Chợ Lớn.
Thực sự, Anh Ta cũng có vẻ ngượng khi Triệt hỏi gằn với cách mỉa mai:
– Mầy làm cái gì mà kỳ cục như thế này?
– Ờ... ờ tại vì kỳ làm ở Phong Dinh, tao có vài liên hệ với họ nên bây giờ họ nói tao giúp trong buổi chuyển tiếp. Tôi đứng xa chỉ nghe Triệt đến kể lại.
– Thôi kệ nó, mầy và tao lần này lại ở chung với nhau như 14 năm trước trên trường Ðà Lạt, chỉ khác bây giờ là trại tù Việt Cộng, đất trời tính ghê quá, con người không biết đâu mà lường.
Ngày 23/06/1975, Chúng Tôi vào trại Long Giao, Long Khánh, câu chuyện về một người gọi là Thiếu tá an ninh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mang lon thượng úy cộng sản ngồi ghi danh, Anh Em không ai muốn nhắc lại, vì hiện tượng phản trắc đã lộ mặt và cùng khắp.
Tồi tệ hơn, những kẻ thay màu áo này hãnh diện với sự nghiệp tráo trở của mình – thành tích có công với cách mạng. Chữ nghĩa được dùng với toàn bộ tính đê tiện khinh miệt nhứt. Tôi và Triệt mất liên lạc với nhau khi chuyển ra Bắc, sau chuyến đi địa ngục trên tàu Sông Hương, khởi hành từ Tân Cảng, Sài Gòn, đúng Ngày Quân Lực 19 tháng Sáu, 1976.
Mười tám năm sau, 1994, tôi và Triệt lại gặp nhau ở Houston, đường Beechnut. Hai Chúng Tôi đã thật sự ở tuổi già sau 30 năm tuổi tù và tuổi lính, nhưng Triệt vẫn giữ nguyên cách thẳng thắn mạnh mẽ của người miền Nam như đang kỳ trai trẻ.
Lần gặp gỡ bắt đầu với câu hỏi gay gắt như đã chực sẵn từ lâu:
– Mầy nhớ vụ thằng Chí khoá mình trình diện năm 1975 không?
– Thằng Chí Thiếu tá An Ninh Quân Đội, cũng là Thượng úy Việt Cộng chứ gì? Tôi cũng sẵng giọng không kém.
– Hắn qua Mỹ rồi đó, HO, đi trước khi Mầy ở tù về, bây giờ đang ở DC, kỳ đại hội Võ Bị tháng 07 vừa rồi, Nó có mặt trong Ban Tổ Chức!
– Mầy có giỡn không, Nó là Việt Cộng chính gốc, sao lại đi HO?
Câu chuyện được kể lại với những chi tiết bất ngờ, cho dẫu kẻ có trí tưởng tượng phong phú cũng khó lường phần bố cục.
Bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 80, một số ít sĩ quan miền Nam thuộc những đơn vị chuyên môn như hành chánh tài chánh, quân cụ, quân nhu lần lượt được trở về chịu sự quản chế của địa phương sở tại.
Khoá Chúng Tôi do một may mắn hiếm có (chỉ xảy ra một lần với khoá 18), vào giai đoạn ra trường (cuối năm 1963), khi chiến tranh tăng cường độ, tổ chức quân đội mở rộng nên cần một số sĩ quan về các đơn vị chuyên môn.
Những người may mắn này sau 1975 nhận thêm một lần hên, họ được thả sớm hơn so với những người bạn ở các đơn vị tác chiến, mà theo đánh giá của cán bộ cộng sản thì món nợ máu của nhân dân chia ra 4 cấp:
Nhứt Pháo, nhì Phi, tam Rằn Ri, tứ Chính Trị (ý nói, lính pháo binh, phi công, biệt kích, nhảy dù, biệt động, thuỷ quân lục chiến và chiến tranh chính trị là những đơn vị đứng hàng đầu tội phạm).
Nhóm sĩ quan may mắn của khoá 18 kia vào ngày 23/11/1981 (kỷ niệm ngày mãn khoá học mười tám năm trước, 23/11/1963) tập trung tại nhà Nguyễn Ngọc Anh, biệt thự gia đình vợ, đường Pasteur cũ. Mười mấy anh, chị, lôi thôi, tơi tả vì trận đòn thù từ 1975 đến nay vẫn chưa hồi tỉnh, tính sổ lại 198 mạng cùi của ngày mãn khoá nay chỉ còn không tới 20, với 50 người tử trận vĩnh viễn không về, mươi kẻ tỵ nạn, vượt biên, số lớn còn lại hiện sống, chết không nên dạng người nơi các trại tù trong Nam, ngoài Bắc.
Trong giây phút mừng tủi của lần hội ngộ, bỗng nhiên, Lưu Thừa Chí xuất hiện. Mọi người đồng im bặt. Sau cùng, có người gắng gượng hỏi:
– Anh còn đến với Chúng Tôi làm gì?
– Tôi cũng đi cải tạo như các bạn, ở trại Cây Trâm!
Chí giả lả làm hòa, hắn đưa Giấy Ra Trại để làm bằng, và đề nghị được góp phần tiền lớn để cùng mua thức ăn, đồ uống về chung vui buổi họp mặt. Không khí hoá nặng nề, từng người lặng lẽ rút lui.
– Mầy có mặt hôm đó không? Tôi nôn nóng hỏi Triệt, cố tìm nên đầu mối.
– Có, năm đó tao mới về, về được một tháng thì Tết Tây.
– Thế thì nó cũng đi tù như bọn mình sao?
– Tù chỗ nào, sao Mầy ngu vậy, Thiếu tá An Ninh Quân Đội thì phải đi ra Bắc chứ; với lý lịch an ninh quân đội thì chẳng phải cần đến cấp tá, chỉ Thiếu úy, Trung úy hoặc Hạ sĩ quan nó còn tìm cớ để bắn chết không cần xét xử như ở trại Xuân Phước, Tiên Lãnh ngoài Trung. Thiếu tá An Ninh Quân Đội nào để lại ở trại Cây Trâm, Bình Dương như thằng này! Triệt gắt cao giọng lộ vẻ bực tức vì tôi vẫn chưa rõ đầu mối câu chuyện.
– Trại Cây Trâm ở đâu, ngày ở Long Giao không nghe ai nói đến.
– Ðó là trại tụi hình sự, cũng có sĩ quan, nhưng chỉ có cấp thiếu, trung úy, mà là thành phần gây vụ việc sau 1975, chứ không là đám tập trung tháng 05, tháng 06/1975 như bọn mình.
– Rồi sao nữa? Tao ngao ngán.
– Sao nữa, đm nó đi HO trước hơn ai hết, kỳ đại hội 7 vừa rồi ở DC, nó góp 1000 đô–la cho ban tổ chức.
– Tiền đâu mà một thằng HO có ngay một ngàn để đóng?
– Mầy tìm nó mà hỏi! Triệt gầm gừ chấm dứt câu chuyện với cách chưởi thề chậm rãi từng tiếng một.
Những nhân sự như Lưu Thừa Chí kể trên sẽ mãi mãi ở trong bóng tối với khả năng tầm thường, đối tượng công tác hạn chế riêng của nó, và giá như bị phát hiện (như đã từng bị nhận ra lý lịch), thì người quốc gia cũng chỉ giải quyết bằng biện pháp đóng cửa dạy nhau, coi như trường hợp xử lý nội bộ (nói theo cách cộng sản), bởi người phe quốc gia vốn dễ tính, không chấp nhứt đối với những kẻ tráo trở, bội phản, cũng do những kẻ này lỡ đã một lần là bạn bè cùng khoá, cùng hội, cùng trường.
Nói ra sợ xấu hổ cả đám, nhưng, vì năm 1994 kia, tôi mới qua Mỹ được mấy tháng, lòng còn đang sôi sục những chuyện cần được kể lại, với ý hướng ngây thơ – người bên ngoài cũng đang muốn nghe về những câu chuyện kia – dẫu những vụ việc nói ra gây nặng lòng, cau mặt.
Ba mươi khoá Ðà Lạt, trước và sau khoá 18 (khoá Chúng Tôi bao gồm Lưu Thừa Chí), không hề có trường hợp: Thiếu úy tốt nghiệp trường Ðà Lạt được chọn đi ngành An Ninh Quân Ðội ngay lúc mãn khoá. Bởi, sĩ quan ngành tình báo này phần đông, nếu không nói hầu hết do ngành an ninh tuyển chọn từ các đơn vị, được huấn luyện ở những trung tâm quân báo, tình báo trong nước và ngoại quốc, sau một quá trình sưu tra an ninh đặc biệt (thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, trách nhiệm sưu tra thuộc một bộ phận của Văn Phòng Nghiên Cứu Chính Trị của Cố Vấn Ngô Ðình Nhu). Thế nên, sự kiện viên Thiếu úy tên gọi Lưu Thừa Chí được tuyển chọn đi ngành An Ninh Quân Đội từ ngày 23/11/1963, không thuộc thẩm quyền chỉ định của Ban Tham Mưu Trường Võ Bị, cũng không thuộc Phòng Tổng Quản Trị / Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.
– Nó xuất phát từ cấp độ cao hơn. Cao đến chỗ nào, Chúng Ta không thể biết, cũng không hề có khả năng được biết những bí mật quốc gia từ dinh Tổng Thống, dinh Thủ Tướng, bộ Quốc Phòng.
– Những bí mật hằng được đám tình báo chiến lược Việt Cộng nắm rõ đầu mối, ngọn nguồn.
Chúng Tôi không hề quan trọng hoá một sự kiện nhỏ nhặt, vì sau này, khoảng năm 1972, Chí để lộ cơ sở công tác: Y thả một nữ cán bộ cộng sản bị bắt giam tại Ty An Ninh Quân Ðội Phong Dinh. Âm mưu vỡ lở, Trung tá Nguyễn Hữu Khiếu, Tiểu Khu Phó thụ lý nội vụ. Chí cầu cứu Trung tá Khiếu với lý lẽ: Bị mê hoặc bởi sắc đẹp cô gái, chứ không phải do công tác nội tuyến.
Trung tá Khiếu nay ở Montréal, kể lại câu chuyện này với Hội Võ Bị địa phương ngày 20/10/1996, có cá nhân tôi tham dự.
Năm 1960–1963, ông Khiếu là đại úy dạy vũ khí ở trường Ðà Lạt. Do bản chất trung hậu, và cũng có phần tin, Chí lỡ dại do dáng dấp quê kệch, xấu trai nên ông Khiếu che chở Chí vì tình thầy trò ở giai đoạn 1972 kia.
II – Vụ Thứ Hai:
Năm 1957 – xin nhắc lại, trước năm 1975 mười tám năm trước, trước vụ việc Lưu Thừa Chí như vừa kể trên gần một thập niên – một thanh niên tuổi chưa tới 20, lội qua sông Bến Hải vượt tuyến vào Nam.
Anh Ta đến khai cùng đồn Cảnh Sát Gio Linh là em ruột của viên Tướng Tư Lịnh Quân Khu 2, đóng tại Huế. Viên Tướng cho người ra đón Em, đem về hỏi lý do vượt tuyến.
Anh thanh niên tỏ bày, vì có anh là Tướng Lãnh miền Nam, nên gia đình ngoài Bắc bị vây khổn chính trị ngặt nghèo, bản thân Anh Ta không được đi học và chịu cảnh sống cơ cực kinh tế, hoặc người anh Cả (anh ông Tướng) vốn là Trung tá binh chủng Phòng Không Không Quân bộ đội Miền Bắc, dẫu có công trận lớn vẫn không được thăng cấp.
Ðược anh nuôi ăn học, người thanh niên sau bậc trung học, tình nguyện đi lính với hòai bão nói ra lời: cũng muốn được sự nghiệp vinh quang trong quân đội như anh. Anh Ta tốt nghiệp khoá Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, đổi về binh chủng Hải Quân, Bộ Tư Lệnh vùng 4 Sông Ngòi ở Mỹ Tho. Những năm 70, anh lên thiếu tá, được mệnh danh là VC Killer, do thành tích, cuối mỗi cuộc hành quân, anh kéo xác Việt Cộng sau tàu chạy dọc bến sông để biểu dương ý chí chống Cộng!
Những ngày cuối tháng 04/1975, viên Tướng cho người em Út, Phó Quận Hành Chánh quận Tân Bình, Gia Ðịnh về Mỹ Tho, kêu vị Thiếu tá VC Killer về Sài Gòn để cùng gia đình lớn đi Mỹ. Thiếu tá VC Killer mạnh mẽ khẳng định với người Em:
– Tui chỉ là thiếu tá, Chú là Quốc Gia Hành Chánh, có gì mà phải sợ cách mạng, Ông Ấy là Tướng mới cần đi Mỹ, còn Chú với Tôi thì ở lại xây dựng đất nước, hòa bình thống nhứt rồi Ta còn mong ước gì hơn.
Sau 30/04/1975, Thiếu tá VC Killer, người Em Quốc Gia Hành Chánh đồng hồ hởi, phấn khởi trình diện học tập cải tạo. Người Em vào trại Long Thành, Biên Hòa; Thiếu tá VC Killer ra trại 1, Ðoàn 776, xã Việt Hồng, Hòang Liên Sơn.
Gặp tôi đi vác nứa giữa đường vào Cốc, Thiếu tá VC Killer đưa tay ngoắc thân ái và hỏi thăm về người Em Quốc Gia Hành Chánh – cũng là em Rể, lấy em gái tôi, Phan Ph Kh.
Một năm sau, khoảng mùa Hè 1977, một cán bộ mặc thường phục từ Hà Nội đến Bộ Chỉ Huy Đoàn 776, gặp viên Chính ủy Đoàn.
Thiếu tá VC Killer được tha ra khỏi trại, về Ban Mê Thuột hành nghề giữ xe đạp với căn cước mới: Thiếu tá ngụy quân học tập tiến bộ, trở về do chính sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng.
Chỉ có một điều không ghi vào lý lịch, ấy là, đối tượng công tác của Thiếu tá Hải Quân Ngụy – VC Killer trong giai đoạn mới là những ai. Hoặc là thành phần Fulro phản động đang âm mưu nổi loạn ở Tây Nguyên, cũng có thể là đám cán bộ cộng sản mới được bố trí vào Tây Nguyên mà thành phần chưa đồng nhất, nên cần phải theo dõi, báo cáo công tác theo hệ thống riêng của Cục Bảo Vệ Chính Trị thuộc quyền chỉ huy trực tiếp duy nhất của Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng – Cơ quan bao trùm cả Bộ Nội Vụ, lẫn Cục Tình Báo Hải Ngoại.
Thiếu tá VC Killer hay người thanh niên vượt tuyến là Thái Quang Chức;
– người Anh Cả là Trung tá Thái Quang Hồng, binh chủng Phòng Không Không Quân bộ đội miền Bắc;
– người Anh Thứ là Thiếu Tướng Thái Quang Hòang, Tư Lịnh Quân Khu 2.
Từ năm ấy đến nay, trên đất nước Việt Nam, nơi Hải Ngoại, hằng vạn, triệu người đã chết. Chỉ một số còn sống, nhưng vẫn – giữ nguyên bí số – Những người như Thái Quang Chức, Lưu Thừa Chí và rất nhiều – rất rất nhiều nữa – những kẻ vô danh, tầm thường, chuyển công tác theo hệ thống ngang – từ nhân viên Cục Bảo Vệ Chính Trị lên thành nhân viên Cục Tình Báo Hải Ngoại – dưới quyền chỉ đạo nhất quán thuộc hệ thống dọc bất khả thay thế: Ban Tổ Chức Trung ương ÐCSVN.
III – Vụ Thứ Ba:
Bắt đầu mùa Hè năm 1990, chương trình ODP được thực hiện với đối tượng cựu tù nhân cải tạo qua kế hoach H (Chỉ danh này bị hiểu nhầm một cách có ý nghĩa thành HO), cá nhân tôi cũng nộp hồ sơ theo thủ tục chung tại Trung Tâm Xuất Nhập Cảnh 333, Nguyễn Trãi, Sài Gòn (trước Tổng Nha Cảnh Sát đường Võ Tánh cũ).
Sau thời gian chờ đợi, trung tâm trả lại hồ sơ với lý do: trên chưa có quyết định về những trường hợp thuộc diện như cá nhân tôi. Sau vài lần vượt biên không thành, hơn nữa các trại tỵ nạn cũng đang có kế hoạch đóng cửa, Nhạc Mẫu Tôi thử cố gắng thêm một lần nhân chuyến ra Bắc thăm họ hàng, với đầu mối – Trung Tâm Trung ương, Cục Xuất Cảnh, Bộ Nội Vụ, 40 A Hàng Bài Hà Nội. Trung tâm ra giá, 500,000 đồng tiền Việt, cụ tặng thêm 100,000 đồng cho nhân viên làm biên lai thâu nhận hồ sơ.
Ngày hôm sau, trung tâm Hàng Bài trả lại hồ sơ với lý do tương tự của đường Nguyễn Trãi. Cuối cùng, HÐ Ngoạn và PÐ Vượng, (hai người bạn thân, biết hầu hết nhân sự và vụ việc của Sài Gòn trước lẫn sau năm 1975, do đường giây giang hồ riêng) chỉ cho tôi đến địa chỉ 206 Nguyễn Trãi, cạnh rạp chớp bóng Khải Hòan, sát cổng xe lửa số 1.
Cơ sở không bảng hiệu, nhân viên mặc thường phục đón khách với thái độ: Chúng Tôi đã biết rõ tất cả. Mà quả thật như thế, người tiếp tôi bắt đầu với câu chào anh Nam có mạnh khoẻ không? Anh Ta đứng dậy, mở tủ, nói với vẻ tự tin:
– Tôi biết anh nhiều lắm!
Rồi anh cho coi Chứng Chỉ Nhảy Dù do Trung Tâm Huấn Luyện Sư Ðoàn Nhảy Dù cấp, Trung tá Trần Văn Vinh ấn ký, với lời giới thiệu: Trung úy Trần Trung Phương, gốc Đại Đội 33 Tiểu Ðoàn 3 Dù, và đơn vị cuối, Biệt Ðội Quân Báo Ðiện Tử Sư Đoàn.
Nhưng, Trần Trung Phương không chỉ là sĩ quan nằm vùng nơi Biệt Ðội Ðiện Tử Sư Ðoàn Dù, mà còn là nhân viên đặc vụ của sở phản gián Bộ Nội Vụ cộng sản, nên Anh Ta đã có kết luận mau chóng: Tôi có thể làm hồ sơ để anh ra khỏi nước trong vòng tám tháng là tối đa, gia đình anh tại Mỹ trả 2000 đô–la cho người Chúng Tôi bên đó, và thêm một vài điều kiện khác...
Lẽ tất nhiên, tôi không thể thực hiện những đề nghị của Phương, từ 2000 đô–la đến những điều kiện khác.
Sau này, năm 1993, để giúp một người quen giải quyết một khó khăn tương tự, tôi đi tìm Trần Trung Phương ở địa chỉ mới, một văn phòng trong khách sạn góc đường Nguyễn Văn Trỗi (Cách Mạng cũ) và Trần Quang Diệu. Nhân viên văn phòng này cho biết Phương đã có mặt ở Nam Cali, vùng Westminter với nhiệm sở mới là một văn phòng dịch vụ du lịch.
Những bãi đáp đổ quân, vị trí hoả tập tiên liệu, toa độ dội bom B52 của Sư Ðoàn Nhảy Dù trong chiến dịch Hạ Lào Lam Sơn 719 đã bị quân báo cộng sản giải mã từ nhiều đầu mối.
Một trong những đầu mối hiểm nghèo kia có sự tham dự rất tích cực và hiệu quả từ Biệt Ðội Ðiện Tử và Phòng Hành Quân của sư đoàn. Và tại cơ quan hành quân tối mật này đã không cần đến một sĩ quan nằm vùng với cấp bậc trung úy như Trần Trung Phương, nhưng chỉ cần một Hạ sĩ quan vẽ phóng đồ hành quân – viên Hạ sĩ nhất mà tôi đã từng thấy mặt, luôn làm việc im lặng, chăm chỉ của phòng 3 khi đơn vị còn mang phiên hiệu Lữ Ðoàn Nhảy Dù, năm 1963.
Ngày 30/04/1975 viên Hạ sĩ quan này hướng dẫn Trung tá Nguyễn Văn Tư, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Sư Ðoàn qua Camp Davis, Tân Sơn Nhứt gặp cán bộ cộng sản để bàn giao hồ sơ trận liệt của đơn vị mà Y đã lưu giữ, cập nhật từ 10–20 năm qua.
Lời Khẩn Cầu Viết Với Giá Máu:
Tôi đã quá tuổi để bắt đầu một dự định mới, cho dẫu kế hoạch dự trù ấy cần thiết, cấp bách đến bao nhiêu, bởi thời gian còn lại không cho phép và việc chưa hòan tất lại quá nhiều. Nhưng tôi phải có bổn phận chỉ đích danh những cá nhân tác hại điển hình như:
* Lưu Thừa Chí,
* Trần Trung Phương,
* TQ Chức,
* những viên Hạ sĩ quan, những Công An cộng sản (đi theo diện ghép với những gia đình HO, ODP) như vừa kể trên (hiện tràn lan khắp cộng đồng Người Việt Hải Ngoại).
– Một nhiệm vụ không thể trì hoãn và khoan thứ, vì đây không là sự việc liên hệ giữa những cá nhân, nhưng là sự tồn vong sinh mệnh chính trị của một tổng thể rộng lớn. Không phải chỉ khối Người Việt Miền Nam mà là toàn Việt Nam khổ nạn. Bởi Chúng Ta, người Việt Không cộng sản – không bao giờ là đảng viên cộng sản – đã lần lượt thua những trận quyết định liên quan đến vận mệnh toàn dân tộc, lần tháng 08/1945, và lần 20/07/1954, và lần cuối cùng 30/04/1975.
– Và nếu hôm nay, Chúng Ta không điều chỉnh sách lược để nhìn rõ địch tình thì e rằng khí thế của lần Cali Vùng Dậy Cờ Vàng 1999, những Ðêm Tuổi Trẻ Thắp Nến sẽ trở nên vô ích, gây tàn lụi nguồn hy vọng bức thiết từ Xuân Lộc, Long Khánh, Thái Bình.
– Chúng Ta sẽ mãi mãi là Người Việt Xấu Xí trước mắt thế giới do âm mưu từ một kẻ nội thù hiểm độc. Nhưng, cũng phải nói rõ thêm một lần hay bao nhiêu lần mới đủ:
– Ðây là lỗi từ Chúng Ta. Cứ sẵn khắc nghiệt cáo buộc, chụp mũ, tranh chấp cùng nhau để rảnh tay cho kẻ thù, cũng đồng nghĩa vô tình tiếp tay kẻ nghịch, bức hại Anh Em – với biện pháp cuối cùng và độc nhất – cáo buộc người bạn của minh là cộng sản, do sau khi đã không tìm ra được nơi bạn mình một lỗi lầm nhỏ nhặt nào. Cuối cùng, chính bản thân ta đơn độc nguy khốn, vì lẽ đã tự tay phá huỷ vũ khí đoàn kết của chính mình. Ðau đớn bao nhiêu. Uất hận bao nhiêu!
Phan Nhật Nam
Phụ lục
VIỆT CỘNG NẰM VÙNG KHẮP NƠI.
Theo VOA tiếng Việt, một trong những nguyên nhân đưa đến thất bại của VNCH là do sự lũng đoạn và phá hoại của bọn gọi là “thành phần thứ ba”. Vài tháng trước tôi có đọc một số tài liệu, sách, hồi ký của nhiều tác giả khác nhau, trong một đoạn nào đó, các tác giả có đề cập đến thành phần “thứ ba”.
Rất tiếc khi ấy không định viết về đề tài này vì vậy không ghi lại đầy đủ chi tiết và xuất xứ, nguồn gốc trích dẫn. Xin bạn đọc thứ lỗi. Đoạn nào nhớ tên tài liệu, chúng tôi sẽ ghi chú để bạn đọc tham khảo thêm.
Trong bài có thông tin thâu lượm qua quen biết trong gia đình, hoặc tiếp xúc tình cờ, tất cả đều là tên thật, người thật không viết tắt, bọn “thứ ba” công khai ra mặt thời VNCH và sau khi VC chiếm cứ miền Nam, không lý do gì phải bao che cho chúng hay phải viết tắt.
Trong số thầy dạy ở trường Huỳnh Khương Ninh có Lê Minh Lương, Nguyễn Văn Hai tự Nguyễn Huy bị cầm tù vì hoạt động cho CS thời Đệ nhứt Cộng Hòa. Mãn án, cả hai trở lại dạy học, Lê Minh Lương dạy nhạc và công dân giáo dục. Nguyễn Huy dạy công dân giáo dục và Quốc văn lớp đệ tam. Lê Minh Lương mệt mỏi và giảm tham gia với CS. Nguyễn Huy vẫn chê bai chính phủ, chỉ trích xã hội, bớt xông xáo hơn trước. Nhưng vẫn thích tiện nghi do VNCH mang lại: “Xe Honđa rất tốt. Con tao còn nhỏ, mỗi tối đã biết bật nút TV cho cả nhà xem chương trình truyền hình”.
Nguyễn Văn Hợi là người Bắc di cư, dạy môn Vạn Vật, CS cực đoan. Sau khi VC chiếm miền Nam, hắn lộ mặt, vào làm ban An ninh nội chính (công an), lần hồi xin chuyển qua Sở Ngoại vụ, tha hồ nhận hối lộ, bóc lột những ai muốn ra đi hợp pháp.
Nguyễn Văn Bảy hoạt động cho CS mạnh, luôn nhồi sọ học sinh với ngôn ngữ CS: “Kìa chiếc máy bay bỏ bom đồng bào...”, CS thưởng công cho làm trưởng phòng Giáo dục quận Nhứt một lượt với Lương Lê Đồng (sẽ đề cập sau). Nguyễn Văn Bảy bỏ vợ, lấy cô học trò tên Tùng (không nhớ họ) lúc ấy tuổi hắn đã hơn gấp đôi tuổi cô Tùng. Thời CS ai dám phàn nàn “đạo đức” mất dạy của bọn chúng!
Cổ tấn Văn Luông dạy sử địa đệ tứ, đệ nhị, từng giữ chức Bí thư chi ủy trường Huỳnh Khương Ninh (trước năm 1975), tuyên truyền cho CS như sau: “Kỹ sư ngoài bắc rất giỏi, biết ghép cây bông vải của Ai cập vào phần trên của cây bông vải Việt Nam, nhờ thế miền bắc sản xuất dư thừa bông vải Ai cập”. Nếu đúng như thế, tại sao quân CS Bắc Việt và sau này thường dân Bắc vào Nam vơ vét, mua nhiều vải vóc, kể cả vải nội hóa (do các nhà mày dệt ở Sài Gòn sản xuất) mang về bắc?
Ông này có người em là sĩ quan Thủy quân Lục chiến VNCH tử trận, sau thời gian ở với CS, ông nhận ra bị CS lừa, tương tự như Nguyễn Huy, sinh ra bất mãn. Nhưng chỉ dám bày tỏ qua phần “thắc mắc” trong các buổi nhồi sọ chính trị (ngành giáo dục), chứ chẳng dám làm gì hơn. Con trai ông Văn Luông, cho đi vượt biên và định cư tại Úc, gia đình ông Văn Luông qua Úc do bảo lãnh của người con. Xong một đời hoang phí theo đuổi chủ nghĩa CS rồi thất vọng, uất hận.
Nguyễn Văn Đức dạy Lý Hóa, thích cộng, chống bất cứ chính phủ nào của VNCH, mạnh miệng tuyên truyền: “Ở ngoài bắc tự do và sung sướng hơn, chỉ có dân Việt với nhau...”.
Sau vài tháng nếm mùi đi họp ở địa phương hằng đêm cuối đầu nghe bọn nhóc con CS tuyên truyền “chiến thắng” và sự “nghèo khổ” của miền Nam, hay xếp hàng mua gạo, bánh mì khô, khoai lang lúc nửa đêm, Nguyễn Văn Đức nhìn thấy tận mắt sự nghèo nàn, ngu dốt, hống hách và luôn khủng bố tinh thần dân chúng của bọn cán bộ CS, Đức chỉ biết nói:
“Sao kỳ vậy, không giống như đảng nói trước đây!”. Khi hiểu CS đã quá muộn, tròng nô lệ “Liên Xô, Trung Quốc vĩ đại” đã siết chặt quanh cổ.
Hiệu trưởng Lương Lê Đồng, người Huế bạn đồng học trường Pellerin Huế với ba tôi, tuy đồng tuổi nhưng ông này học sau ba tôi vài lớp (theo lời ông nói). Ông Lương Lê Đồng vào tù ra khám thời Đệ I Cộng Hòa và Đệ II Cộng Hòa do hoạt động chống đối chính phủ. Do đó trường Huỳnh Khương Ninh dung túng nhiều thầy giáo CS hoặc chống đối chánh phủ VNCH.
Có lần bị bắt tại nhà riêng đường Nguyễn Phi Khanh, một học trò cũ của ông là Đại úy cảnh sát, đến gõ cửa nói: “Thầy ơi, lần này thầy đi 6 tháng”, rồi anh thong thả đứng đợi trước cổng trong khi ông Lương Lê Đồng sửa soạn áo quần, từ biệt vợ con.
Người học trò cũ – Đại úy cảnh sát, trân trọng mời “thầy” lên xe ngồi phía trước cạnh tài xế, chính anh lên ngồi cạnh “thầy”, không cho còng tay thầy cũ và cũng không cho ngồi băng sau như những tội phạm khác.
Học trò thấm nhuần giáo dục VNCH mới đối xử với kẻ địch và là thầy học cũ như vậy. Với CS, kẻ địch phải giết, phải đánh, phải “mầy tao” không lễ nghĩa, lịch sự chi cả.
Tuy vẫn treo cờ VNCH trước cổng, thoả thuận của Lương Lê Đồng, Nguyễn Huy cùng Cổ tấn Văn Luông lẳng lặng không cho học sinh chào cờ VNCH mỗi sáng thứ hai như ở các trường khác, thay vào đó gọi là chào “Hiệu đoàn kỳ trường Huỳnh Khương Ninh” và hát “Hiệu đoàn ca Huỳnh Khương Ninh”, không hát quốc ca VNCH. Một âm mưu có tính toán sâu xa nhằm đẩy học sinh ra xa VNCH, chen lẫn tuyên truyền trong lúc giảng bài của mấy “thầy” luôn binh vực miền bắc “xã hội chủ nghĩa”, hay thêu dệt hình ảnh một xã hội CS hòan hảo.
Sau khi VC chiếm miền Nam, Lương Lê Đồng được cho giữ chức Chánh sở giáo dục Sài Gòn của chính phủ (bù nhìn) Cộng hòa miền Nam Việt Nam (tức là chính phủ của bọn tự xưng là Giải phóng miền Nam, cờ nửa đỏ, nửa xanh dương đậm và có ngôi sao vàng ở giữa). Chẳng qua là bước đầu của CS đưa đám “nhân sĩ” thân cộng miền Nam ra, xoa dịu dân miền Nam không muốn CS Bắc Việt xâm chiếm. Không đầy một năm, Lương Lê Đồng mất chức và “được” cho gia nhập Mặt trận Tổ quốc của VC.
Khoảng năm 1978, gặp lại một thầy khác, ông cho hay Lương Lê Đồng đau bịnh nặng nhiều năm, vắng mặt trong Mặt trận tổ quốc VC, sau đó đi chầu Marx.
Mặt trận Tổ quốc, công cụ hạng bét của CS Bắc Việt, bao gồm mọi thành phần không thể cho vào tổ chức nòng cốt của đảng CS. Thầy chùa thân cộng, sư cái, sư đực VC, linh mục VC, nhân sĩ, trí thức thân cộng, bám đuôi CS đều cho vào nồi cháo heo, thập cẩm, tả pí lù: Mặt trận Tổ quốc, dễ kiểm soát, kềm chế và trừng phạt khi cần. Vài thí dụ điển hình: sư cái Huỳnh Liên, linh mục VC: Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Huỳnh Công Minh, hay bọn biểu tình phá rối: Ngô Bá Thành, Cao Thị quế Hương, Huỳnh Tấn Mẫm, Trịnh Đình Ban, Lê Văn Nuôi...
Tại sao Bộ Giáo Dục, Bộ Nội vụ, Cảnh sát quốc gia không làm gì trường Huỳnh Khương Ninh?
Lý do:
– Trường đào tạo nhiều thế hệ học sinh từ đời Pháp thuộc (khi ấy chưa bị CS thao túng), các cựu học sinh nâng đỡ trường như Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, ông Phạm văn Phàng (Chánh văn phòng Phủ Thủ tướng VNCH). Ông Phạm Văn Phàng từng dạy học tại trường lâu về trước, nhưng vẫn cố giúp đỡ trường nơi hai con ông theo học. Uy tín của ông làm bên cảnh sát nhẹ nhàng hơn với trường Huỳnh Khương Ninh.
Người miền Nam nói chung coi trọng tình nghĩa, đó là kẽ hở để CS lợi dụng.
– Các thầy giáo khác chỉ dạy học và làm ngơ không theo CS, rất nhiều thầy cô ở vào loại này, cũng là khuyết điểm của dân miền Nam trước đây, muốn yên thân, không đụng chạm chuyện người khác, tự nhủ “không làm chính trị”, hoặc “việc của cảnh sát, của chính phủ, mình chỉ là thường dân!”
– Thầy Khánh Trương, xin được chân dạy toán ngay ổ CS Huỳnh Khương Ninh. Ông rất trẻ, đẹp trai, đi dạy học bằng xe mô–tô loại lớn. Giữa giờ học, một tên VC lạ mặt bước vào lớp, chĩa súng vào ông Khánh Trương, tên này tuyên truyền CS trước cả lớp, sau cùng hắn nói với ông Khánh Trương: “Tụi tôi biết anh là CIA, lần này chỉ cảnh cáo”. Xong hắn chạy ra khỏi trường. Câu chuyện lan truyền từ lớp này sang lớp khác, nhốn nháo cả trường vài ngày.
Ai mở cửa trường trong giờ học để VC vào đe dọa thầy giáo? Tên VC lạ mặt chỉ vào ngay lớp của thầy Khánh Trương, tất nhiên phải có chỉ điểm của VC trong trường. Có thật ông Khánh Trương là CIA hay không, hay đó là luận điệu muôn đời của VC. Hoặc ông được Cảnh sát quốc gia giao theo dõi hoạt động bọn thầy giáo CS, nên chúng phải loại ông ra.
Hết niên học, thầy Khánh Trương nghỉ luôn.
Gặp thầy Vương Gia Khánh ở hải ngoại, ông nói – bọn CS trường Huỳnh Khương Ninh từng móc nối ông hoạt động cho chúng. Ông Khánh – cựu học sinh của trường, thiếu úy hiện dịch giải ngũ vì bị thương, không còn khả năng chiến đấu. Theo ông, VC cho rằng ông là đối tượng tốt nhất, cựu sĩ quan QLVNCH, thương phế binh, nếu hoạt động cho VC, sẽ ít bị nghi ngờ. Ông Khánh từ chối, chỉ dạy học không tham gia chính trị. Ông mỉa mai gọi ông Lương Lê Đồng là trái chanh VC đã vắt sạch nước, xong ném vào thùng rác. Thân phận chung của bọn nằm vùng ngu ngốc tin theo CS chỉ có thế, chứ không khá hơn.
Nói đến CS nằm vùng không thể bỏ qua Thích Trí Quang, tức Phạm Quang, có khi gọi là Phạm Văn Bòng (hay Bồng), tên trong lúc hoạt động là Đinh Văn Tánh.
Theo lời của chính hắn trong “Trí Quang tự truyện (2011)”, hắn nghiên cứu Bản tường trình thành lập Việt Minh năm 1941 của tên CS Trường Chinh soạn theo lịnh Hồ Chí Minh, và rất thích ý niệm đó (trang 10/40).
Trước năm 1963, Trí Quang có thương lượng với Tổng Thống Ngô Đình Diệm – hắn muốn chánh phủ cắt phân nửa vườn Tao Đàn giao cho hắn xây chùa làm trụ sở, đồng thời chính phủ phải cung cấp 5 triệu đồng VNCH làm phương tiện hoạt động (khi ấy xe Mercedes mới, nhập cảng của Đức chỉ có 200 ngàn đồng tiền VNCH/chiếc).
Tổng Thống Diệm trả lời – cả hai việc đó Tổng Thống lo không nổi theo đòi hỏi của Trí Quang (Trí Quang tự truyện trang 34/40).
Tìm hiểu thêm gốc gác của Trí Quang, (Thích) Trí Độ là thầy dạy đạo cho Trí Quang, (Thích) Thiện Minh, (Thích) Thiện Siêu...
Năm 1953 Trí Độ được Việt Minh cho làm Ủy viên Ủy ban Việt Nam Bảo vệ Hòa bình Thế giới (sic), sau khi Việt Nam chia đôi đất nước, Trí Độ ra bắc và cầm đầu Phật giáo miền Bắc cho đến lúc chết năm 1979. Trí Độ giữ chức Ủy viên thường vụ quốc hội và Ủy viên Chủ tịch đoàn Mặt trận tổ quốc tả pi lù của bắc Việt. Trí Độ được tưởng thưởng hai huy chương của CS.
Trí Quang và các bạn đồng học chịu ảnh hưởng tuyên truyền của Trí Độ. Sự liên lạc và cấu kết đã có từ lâu giữa Trí Độ và các môn sinh, giật dây điều khiển hoạt động của Trí Quang, Thiện Minh... trong chiến lược phá hoại nội tình VNCH, ẩn núp dưới danh nghĩa “bảo vệ đạo pháp”.
Có người không tin Trí Quang là tay chân của CS, sau khi VC chiếm miền Nam, Trí Quang và đồng bọn không hề lên tiếng về sự đàn áp tôn giáo, ngược đãi sĩ quan QLVNCH trong các trại tù từ Nam ra bắc? Không hề biểu tình, không dọn bàn thờ ra đường phản đối, không “tuyệt thực nhưng vẫn uống sâm”, không tự thiêu, tự đốt, tự chặt tay chặt chân. Cũng không thấy ủy ban “tranh đấu” cho tù nhân được đối xử nhân đạo hay “cải thiện” chế độ lao tù thời CS.
Tất cả chẳng qua là “nhiệm vụ” phá hoại miền Nam đã làm xong, gây chia rẽ chính trị miền Nam đã hòan tất. Cao Đăng Chiếm, và trùm khủng bố Mười Hương tuân lịnh Phạm Hùng phải triệt hạ Trí Quang tức khắc, cô lập và loại bỏ đám lâu la thân cận từ thời trước CS, bọn này đội lốt tu hành (sic), cư sĩ hay “phật tử” để yểm trợ chiến dịch phá hoại VNCH, mỗi tên bị theo dõi thường xuyên, giam lỏng. Kể cả Tri Quang, không được ra khỏi chùa Già Lam, mọi hành động đều bị theo dõi.
Thêm một trường hợp trái chanh hết nước phải vất thùng rác.
Danh sách bọn CS nằm vùng phá hoại VNCH còn rất dài, lần hồi chúng tôi sẽ trình bày với bạn đọc, có chi tiết bạn đã biết rồi, cũng có chi tiết bạn đọc chưa biết.
Mục tiêu chính yếu là rút ra một bài học từ thất bại của VNCH.
Những người chống cộng ở mọi lứa tuổi, mọi thành phần, có dịp suy gẫm thêm và không để CS lừa bịp lần nữa.
(Tiểu Đoàn 52 Biệt Động Quân)
và Cái chết của Tướng cộng sản Bắc Việt Nguyễn Chí Thanh
_____________________ Trần Lý
Trong lịch sử có những trận đánh mà kết quả đã đưa đến sự thay đổi toàn diện của cuộc chiến như trận Waterloo với sự thay đổi của cả Âu châu, như trận Midway với sự khởi đầu cho cuộc phản công của Hoa Kỳ trên mặt trận Thái Bình Dương (Thế chiến thứ 2). Cái chết của Người cầm quân cũng ảnh hưởng đến diễn biến của lịch sử: Nếu Vua Quang Trung không mất sớm thì lịch sử Việt Nam đã khác hẳn và nếu Đô đốc Yamamoto còn sống (bị chết trong một cuộc tấn công của Không quân Hoa Kỳ, bắn cháy chiếc phi cơ chở Ông khi đang đáp xuống một phi trường) thì chiến tranh Mỹ Nhật sẽ có thễ đã đổi khác (?)...
Cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam cũng không thoát khỏi những cái...nếu kể trên!
Cái chết của Tướng Bắc Việt Nguyễn Chí Thanh:
Nguyễn Chí Thanh là một trong hai Đại tướng của Quân Cộng sản Bắc Việt Nam (1960), tưóng kia là Võ Nguyên Giáp. Thanh đã được bổ nhiệm thay thế Giáp từ 1960 để trực tiếp chỉ huy Quân đội miền Bắc và đặc trách chỉ đạo công cuộc xâm lấn Miền Nam. Giáp được giữ nguyên chức vụ Bộ trưởng Quốc Phòng của Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (BV).
Nghị quyết của Đại Hội Đảng CS lần thứ 3 (Tháng 9-1960) đã quyết định dùng võ lực để tiến chiếm miền Nam và đưa ra việc thành lập cái Mặt trận trá hình ‘giải phóng Miền Nam’ (tháng 12-1960).
Thanh, duới bí danh là Trường Sơn, trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tại miền Nam, tại Bộ Tư lịnh gọi là Trung Ương Cục Miền Nam (COSVN), đặt tại vùng đồn điền cao-su Mimot trên phần lãnh thổ Cao Miên trong vùng biên giới Miên-Việt tại Khu Lưỡi câụ Trong khi đó trụ sở của Mặt trận bịp GPMN thì đặt tại khu từng Tanot kế cận và Chính phủ ma lại đặt tại Xóm Giữa...Tất cả tập trung trong một vùng bà Tình báo Mỹ gọi là Base Area 353, vớt mật danh ‘Breakfast’. Thanh được sự trợ giúp của Trần Độ (bí danh Cửu Long) để thực hiện chính sách mở rộng chiến tranh với sự tham dự của nhựng đơn vị cộng quân xâm nhập từ miền Bắc. Thanh cũng là người trực tiếp chống lại các ý kiến của Giáp trong kế hoạch thôn tính Miền Nam: Thanh chủ trương áp dụng chiến tranh toàn diện và cũng là người mà Hồ Chí Minh tin cậy và dự trù sẽ hoàn toàn thay thế Giáp. Thanh đã từng đại diện Hồ đến khiển trách Giáp vì kiểu sống ‘tiểu tư-sản’ khi 2 vơ chồng Giáp sử dụng trực thăng riêng và cho các cận vệ đuổi dân ra khỏi một vùng bãi biển để dành riêng chỗ tắm cho 2 vợ chồng (Phillip Davidson- Viêt Nam at War-trang 306).
Sự mâu thuẫn và tranh dành quyền lực giữa Thanh và Giáp đã đưa đến chỗ có nhiều nghi vấn và những câu hỏi về vai trò của Giáp trong cái chết của Thanh.
Cứ theo ‘chính sử’ của BV, ghi trong tiểu sử của Thanh thì Tướng Nguyễn Chí Thanh chết lúc 9 giờ sáng ngày 6 tháng 7 năm 1967 tại Viện Quân Y 108 (Hà Nội) vì bệnh tim. (Theo Sử gia Douglas Pike thì ngày, giờ và địa điểm nêu trên không chính xác vì truyền thống của Hà Nội là loan tin...giả, tùy theo nhu cầu chính trị...Ngay như ngày và giớ chết của Hồ Chí Minh cũng không thoát khỏi thông lệ này- Xem People’s Army of VietNam, trang 350). Thật ra Thanh đã chết trong một trường hợp đầy nghi vấn trong khoảng thời gian từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 năm 1967.
Theo tin tức của Tình báo Mỹ thì Thanh chết trong một trận không tập của B-53, đánh trúng hầm trú ần của y trong vùng Mỏ Vẹt, gần biên giới Miên-Việt, trận không tập này có thễ liên hệ đến trận Suối Lòng của TĐ 52 BĐQ (xem phần dưới)
Tuy nhiên, một bản báo cáo ‘mật’ của Toán Cố vấn Mỹ, hoạt động tại Tỉnh Bình Long, về những diễn biến trong thời gian chấm dứt vào ngày 31 tháng 7 năm 1967, lại cho rằng Thanh đã bị các thuộc hạ thanh toán (?): ‘Một phúc trình đáng tin cậy nhận được vào tháng 7 cho biết, ngày 30 tháng 6 năm 1967, Nguyễn Chí Thanh, Tướng Cộng sản BV, Tư lệnh Trung Ương Cục Miền Nam, đã bị các thuộc hạ giết tại Sóc Tà thiết (tọa độ XU 618005) trong Tỉnh Bình Long. Thanh bị phe thân Nga thanh toán vì bị cho là thân Trung cộng’ Tin tức này do nhóm Tình báo 149 MI cung cấp (Xem MACORDS Advisory team 81- Special Narrative Report on Revolutionary Development. Binh Long Province 31 July 1967-US Army Center of Military History Washington DC).
Ngày, giờ, nơi chỗ và lý do về cái chết của Thanh đến nay vẫn còn là một bí ẩn. Theo Bùi Tín (cựu Đại tá CSBV đào thoát thì Thanh được triệu hồi về Hà Nội để dự cuộc bàn thảo chiến lược tháng 6-1967, từ cuộc bàn thảo này đạ đưa đến quyết định ‘Tổng Công kích Mậu thân 1968’, và theo Bùi Tín thì sau buổi họp, Thanh...đã ăn quá nhiều đến nỗi chết vì...tim ngưng đập (!?). Theo Dương Đình Lôi, một nhà văn hồi chánh, trong tập sách ‘Về R’, thì Thanh chết vì B-52 thả trúng hầm, gây sụp hầm và một thanh đà gỗ đã rơi và đâm trúng đầu Thanh!. Hoàng văn Hoan, vốn là một nhân vật thân Trung cộng, tuy xem các chi tiết về cái chết của Thanh là những trò hỏa mù theo nhu cầu tuyên truyền, nhưng Hoan cũng không giải thích gì về cái chết của Thanh (Xem Hoàng văn Hoan-Giọt nước trong biển cả- Hòi ký xuất bản tại Bắc Kinh, 1988)
Tuy nhiên, nếu cái chết của Thanh được vui nhận, thì không phài là VNCH nhưng lại là một người khác, đó là Giáp và nếu Giáp có nhúng tay vào cái chết này thì cũng là chuyện có thể xẩy ra, vì trong quá khứ Giáp đã từng tiêu diệt hơn 10 ngàn người Quốc gia chống Cộng sau khi bọn chúng cướp chình quyền năm 1945. Giáp cũng là người ra lệnh thanh toán Nguyễn Bình, Tư lệnh Việt Minh tại Nam bộ trong thời gian chống Pháp, như chính Giáp sau này đã thú nhận (Pike trong PAVN trang 341)
Trận Suối Lòng và cái chết của Nguyễn Chí Thanh:
Trận Suối Lòng là một trong những trận đánh nổi tiếng nhất của Tiểu đoàn 52 BĐQ (ngày 27 tháng 6 năm 1967). Do trận đánh này TĐ đã được Tổng Thống Hoa Kỳ tuyên dương công trạng (Presidential Unit Citation) lần thứ nhì. (Lần thứ nhất vào tháng 11 năm 1965 trong trận Đèo Mẹ bồng con tại Phước Tuy).
TĐ 52 BĐQ, vào năm 1967, do sự giúp đỡ rất tận tình của các Đại Úy Cố vấn Al Shine (Cố vấn trưởng) và Keith Nightingale (Phó), đã là TĐ BĐQ đầu tiên trang bị một số súng M-16 (trong khi các đơn vị bộ binh khác của QL VNCH còng đang sử dụng súng Carbin M1/M2 và Garant...) TĐ còn có thêm 11 Trung liên M-60 và 9 đại liên.50 cal, cùng 3 súng cối 81 ly và đặc biệt hơn là 1 cối 4.2 inch. Cũng qua sự can thiệp khéo léo của Đ/u Nightingale, TĐ có được 10 máy truyền tin PRC-25 (rất hiếm ở vào thời gian 1967 này). Với cấp số là 658 quân nhân, TĐ thường xuất trận với quân số khả dụng 450 người, chia thành 4 đại đội tác chiến và 1 đơn vị chỉ huy.
TĐ 52 (1967) được đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Nguyễn Hiệp, một sĩ quan tốt nghiệp Trường Võ bị Đà lạt, đã từng chiến đãu trong Quân đội Pháp và được tặng thưởng huy chương Croix de Guerre của Pháp. Th/t Hiệp cũng đưọc ân thưởng một số huy chương đủ loại của QL VNCH.
Ngày 27 tháng 6 năm 1967, TĐ 52 BĐQ được lệnh mở cuộc hành quân vào một khu vực bị nghi ngờ là có một trại tập trung của Cộng quân cấp đại đội, tin tức được cung cấp do một hồi chánh viên. Khoàng 4 giờ chiều trên 40 trực thăng UH-1 (gồm cả các UH-1 của KQ Tân Tây Lan) đã đổ TĐ, chia thành 2 cánh, xuống một khu rừng thưa gần Suối Lòng (Khu Mỏ Vẹt). Cánh quân thứ nhất gồm 2 ĐĐ và Đơn vị chỉ huy, khoảng 260 binh sĩ đi cùng với Th/t Hiệp và Đ/u Shine Cố vấn trưởng, hồi chánh viên củng ở trong cánh quân này. Cánh thứ nhì, 2 ĐĐ đi cùng Đ/u Nguyễn Công Thông, TĐ Phó và Cố vấn Đ/u Nightingale. Hai cánh quân di chuyển cách nhau khoảng 100m. Sau khoảng hơn 1 giờ di hành, trên một quãng đường 900 m, TĐ đã tiếp cận mục tiêu và nổ súng tấn công. Căn cứ này được ngụy trang rất kỹ, che phủ bởi các tàng cây rậm rạp nên không ảnh không thễ tìm được dấu vết, và được bảo vệ bằng 3 lô cốt đào sâu dưới đất, trang bị với đại liên Trung cộng 12 ly 67.cùng các giao thông hào hình chữ chi... Đây là một căn cứ cấp Tiểu đoàn của CQ. Th/t Hiệp ra lện tấn công ngay lập tức...
Do yếu tố bất ngờ, BĐQ hoàn toàn làm chủ tình thế, chỉ sau 10 phút đã chiếm ngay được 2/3 chu vi phòng thủ của CQ, quân số cấp Tiểu đoàn, hạ sát được viên TĐ trưởng CS ngay đợt nổ súng đầu tiên, tịch thu được nhiều súng cá nhân và cộng đồng, kể cả súng cốị Các chiến sĩ TĐ 52 đã sử dụng ngay các giao thông hào của CQ để tổ chức phòng thủ. Pháo binh 175 ly của Huê Kỳ đã yểm trợ khá hữu hiệu cho cuộc tấn công, nhưng vì cận chiến nên đạn pháo cũng đã gây tổn thất cho tiểu đội xung kích. Đ/u Nightingale đã phải yêu cầu ngưng pháo yểm trợ. Pháo yễm trợ của Pháo binh VNCH không được sử dụng vì ngoài tầm bắn...
Th/t Hiệp không nao núng, ra lệnh cho các chiến sĩ BĐQ sửa soạn lại vị trí phòng thủ, chờ cuộc phản công của Cộng quân vì Ông đoán chắc họ sẽ phản kích để lấy lại số võ khí bị mất và phục hận. Ông xin thêm viện binh nhưng chưa được chấp thuận ngay...TĐ 52 sẽ phải chiến đãu đơn độc, chỉ có thể được sự tăng viện của một đơn vị nhỏ Điạ phương quân/ Nghĩa quân ở gần đó. Th/t Hiệp cũng không biết rằng Căn cứ Cộng quân này là một tiền đồn phòng thủ cho nơi đặt một Bộ Tư lệnh quan trọng của CSBV và phía sau căn cứ là một giòng sông. Lợi dụng đêm tối và sương mù VC đã chuyển vận bằng thuyền hơn 2 Tiểu đoàn quân chính quy, vượt sông để tổ chức cuộc phản công. Toán trinh sát của TĐ 52BĐQ ghi nhận được sự chuyển quân nhưng không ước lượng được quân số của địch, họ cũng thấy 5 người Âu di chuyển cùng với Bộ chỉ huy CS (?), có thể là các Cố vấn Nga hoặc các nhà báo Đông Âu đang có mặt trong vùng này (?).
Khi trời gần sáng, lúc 5 giờ 30, Th/t Hiệp ra lệnh xung phong thanh toán mục tiêu và Ông không biết rằng cũng chính lúc này 1500 Cộng quân được lệnh tấn công BĐQ! Mỗi Đại đội BĐQ phải phụ trách một vùng từ 70 đến 100m diện địa và phải chống trả những đợt tấn công biển người, từng đợt tiến sau nhau chừng 40m... chẳng bao lâu BĐQ gần như bị tràn ngập. Nhưng đúng lúc này, trực thăng vũ trang xuất hiện (lúc 6 giờ 15 sáng) và xóa sạch đợt tấn công của Cộng quân bằng rocket và đại liên minigun. Với ý chí quyết thắng và lợi dụng cơ hội Cộng quân còn đang lo tái tập trung, Th/t Hiệp ra lệnh tiếp tục tiến công nhưng với tỷ lệ 1 chống 6,7 BĐQ phải lui trở lại các vị trí phòng thủ ban đầu. VC tiếp tục pháo kích vào các vị trí của BĐQ bằng súng cối, như Đ/u Nightingale đã xác định được các vị trí của các khẩu đội cối VC, và nhờ sự trợ giúp của L 19 võ trang đã dẹp tan các khẩu cối này... CQ tiếp tục tấn công, chu vi phòng thủ của TĐ 53 thu hẹp dần chỉ còn 100m trước mặt và khoảng 50m phía sâu. Tuy sắp có viện binh, nhưng Th/t Hiệp biết rằng cần phải rút lui để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn. Để bảo vệ cho cuột rút quân, ĐĐ 2 do Tr/u Tang chỉ huy đã chấp nhận hy sinh bằng cách bung lên tấn công Cộng quân và ĐĐ này đã gần như bị mất hoàn toàn. VC tái tập trung và tung thêm trận công kích mới, nhưng trên 300 tên đã bị phi cơ B-57 tiêu diệt bằng bom 1000 lb nổ chậm, thả thật sát với toán BĐQ bảo hậu. 2 tiểu độ BĐQ rút sau cùng cũng bị thiệt hại trong trận mưa bom này. (Trong vòng 45 phút, các phi cơ ngoài B-57 còn có các F-4 và các Skyraiders A-1E của KQ VNCH, đã bay yểm trợ đến 45 phi suất thả đủ loại bom từ napalm đến bom chùm, bom nổ các cỡ 250, 500, 750 và 1000lbs)
Đến khoảng 10 giờ sáng, các TĐ 35 và 43 BĐQ đã được đưa đến để thay thế cho TĐ 52. Kiểm điểm quân số, tổn thất của TĐ 52 được ước lượng là 40 hy sinh, 100 bị thương và hơn 100 còn thất lạc. Trong quân số khởi đầu cuộc hành quân chỉ còn 50 người nguyên vẹn.
Lực lượng Đồng minh sau đó đã chiếm được Căn cứ CQ này vào giữa trưa sau khi CSBV đã rút khỏi trận địa. Hôm sau Lữ đoàn 11 Thiết kỵ Hoa Kỳ đã tiến vào căn cứ mà không gặp kháng cự.
Trong 2 ngày sau đó, TĐ 52 trở lại lục soát khu vực để tìm kiếm các binh sĩ thất lạc và gặp lại từng nhóm 2-3 người. Các binh sĩ sống sót này đã đưa con số tổn thất còn 28 hy sinh, 82 bị thương và 12 mất tích...
Ba ngày sau trận đánh, TĐ 52 tìm được một Trung sĩ thuộc ĐĐ2 (ĐĐ đã hy sinh để bảo vệ cuộc rút lui cho TĐ). Viên Trung sĩ này đã di chuyển 15 km, cõng theo một đồng đội bị thương và còn dìu thêm một chiến binh khác. Anh ghi rõ được tọa độ tập trung của một đơn vị đặc biệt của CSBV, bảo vệ cho một người Chỉ huy cao cấp, mà Anh nghĩ là một Tướng Tư lịnh Chiến trường (?)
Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ đã nhanh chóng quyết địng dùng B-52 để không tập toạ độ đặc biệt này và đã đánh trúng vào Bộ Chỉ Huy Trung Ương Cục Miền Nam (COSVN)...và sau đó Tướng Nguyễn Chí Thanh được công bố là chết vì...bịnh tim tại Hà Nội...!
* Vài chi tiết về TĐ 52 BĐQ
TĐ 52 BĐQ được thành lập vào đầu năm 1964 tại Mỹ Tho, quy tụ các Đại đội BĐQ biệt lập 347, 348, 351 và 352. Đây là TĐ được thành lập sau cùng (thứ 20) trong 20 TĐ BĐQ nguyên thủy.
Tiểu đoàn trưởng đầu tiên là Đ/u Vòng Sĩ Dầu, TĐ Phó là Đ/u Võ văn Sáng. TĐ được tập huấn tại Trung Tâm Huấn luyện BĐQ Trung Hòa (Củ Chi). Sau khi được huấn luyện TĐ trở thành lực lượng trừ bị cho Khu Chiến thuật Tiền Giang va đã hành quân trong khu vực Bà Bèo, Ấp Bắc, Cai lậy...Vĩnh Kim…
Tháng 8-1964: TĐ đã chiến thắng trong cuộc đụng độ với TĐ 512 VC tại Hàm Luông.
Cuối năm 1964, do tham gia cuộc đảo chánh của Tướng Lâm văn Phát, TĐ 52 bị sáp nhập vào Quân đoàn 3, TĐ trưởng thứ nhì là Đ/u Nguyễn Thành Nguyên (K18 VBĐL). Đ/u Nguyên hy sinh trong trận Thanh Lợi (tháng 12/1964).
TĐ trưởng thứ 3 là Đ/u Hoàng Thọ Nhu, TĐ phó là Tr/u Nguyễn Hiệp: trong giai đoạn này TĐ đã dùng các chiến lợi phẩm tịch thu được của CQ để trao đổi lấy các vũ khí mới của HK (chưa có trong cấp số của QL VNCH như M-16, Trung liên M-60... TĐ 52 đã tham dự trận Đồng Xoài (tháng 12/1965) và sau đó trở thành TĐ trừ bị của TTMnên đã tham dự nhiều chận đánh tại Vùng 2 CT như Pleiku, KonTum, Dakto.
Tháng 10/1965 TĐ 52 BĐQ được biệt phái cho Tiểu Khu Phước Tuy và đã tạo một chiến thắng lẫy lừng vào ngày 11 tháng 11 năm 1965 tại đèo Mẹ Bồng con và được TT Johnson tuyên dương công trạng…
Đầu năm 1966, TĐ 52 được tăng phái cho SĐ 10 BB. Đây là giai đoạn ‘đi xuống’ của TĐ, các sĩ quan nồng cốt lần lượt bị thuyên chuyển. Một số sĩ quan BB từ SĐ 10 BB được bổ nhiệm làn TĐ trưởng như các Đ/u Riệu, Pháp... TĐ trở thành một đơn vị địa phương bảo vệ các vùng rừng gỗ quý trong vùng Cẩm tâm, Cẩm My… cho các ‘Ông lớn’…
Mãi đến tháng 9, 1966 Đ/u Nguyễn Hiệp sau khi tốt nghiệp Khóa Chỉ huy Tham mưu tại Đà lạt mới được trở về chỉ huy TĐ cùng với sự phụ tá của Đ/u Nguyễn công Thông... TĐ 52BĐQ tái hoạt động, thường được chỉ định hành quân phối hợp với Lữ đoàn 11 Thiết Kỵ Hoa Kỳ, truy lùng các đơn vị CQ trong vùng trách nhiệm của SĐ 10 BB.
Tháng 7, 1967 với Chiến thắng Suối Lòng TĐ đã được TT Hoa Kỳ tuyên dương lần thứ 2.
Trong Trận Tổng Công Kích Mău Thân, TĐ 52 hoạt động tại Long Khánh, Biên Hòa, Phước Tuy và sau đó phối hợp với các TĐ 31 và 36 để thành lập LĐ 3 BĐQ (do Th/t Phạm văn Phúc chỉ huy) để bảo vệ vòng đai Sài gòn. TĐ trưởng của TĐ là Đ/u Nguyễn Văn Niên và sau đó là Đ/u Lê Quý Dậu.
Vị TĐ trưởng thứ 9 và cũng là sau cùng, là Th/t Trần Đình Nga...
(Riêng Th/t Nguyễn Hiệp đã chết trong Trại tù (cải tạo) CS )
Mờ trong bóng chiều
Một đoàn quân thấp thoáng
Núi cây rừng
Lắng tiếng nghe hình dáng
Của người anh hùng
Lạnh lùng theo trống dồn
Trên khu đồi nương
Im trong chiều buông.
Ra biên khu trong một chiều sương âm u
Âm thầm chen khói mù
Bao oan khiên đang về đây hú với gió
Là hồn người Nam nhớ thù.
Khi ra đi đã quyết chí nuôi căm hờn
Muôn lời thiêng còn vang
Hồn quật cường còn mang đến phút chiến thắng
Sầu hận đời lấp tan.
Gươm anh linh đã bao lần vấy máu
Còn xác xây thành, thời gian luống vô tình.
Rừng trầm phai sắc
Thấp thoáng tàn canh
Hỡi người chiến sĩ vô danh...