Xuân .. Xuân .. Xuân .. Ất Tỵ ...

Trả lời
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

CÁI BÓNG MÙNG 2 TẾT

Bài viết bởi Hoàng Vân »






CÁI BÓNG
MÙNG 2 TẾT

_______________________
Bùi Chí Vinh




Một cái bóng cô quạnh
Lặng lẽ trên đường trần
Cái bóng không né tránh
Họng súng và dao găm

Bị bắn và bị đâm
Bằng búa rìu dư luận
Cái bóng vẫn âm thầm
Mặc thế gian dậy sóng

Cái bóng bị hộ tống
Bằng những clip truyền hình
Cái bóng bị... mất bóng
Bởi hàng rào an ninh

Cái bóng không tụng kinh
Mà chết thằng gõ mõ
Cái bóng rất hòa bình
Mà chiến tranh sư cọ

Lộ trình đi Ấn Độ
Dài hết một kiếp người
Bọn phàm phu đứng ngó
Bóng đổ dài mồ côi !



30-1-2025
BCV






https://www.facebook.com/buichi.vinh.3/ ... uYFgMQ9Nl?
          
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Tết Mậu Thân 1968 và Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

Bài viết bởi Hoàng Vân »

  •           







    Tết Mậu Thân 1968
    và Người Lính
    Việt Nam Cộng Hòa

    _____________________________
    Hàn Giang Trần Lệ Tuyền _ 2012







    “Vui Xuân Không Quên Diệt Cộng”; đó là câu khẩu hiệu mỗi lần Tết đến, của một thời đã được Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn phải chi nhớ trong công cuộc chiến đấu để bảo vệ tự do, bảo vệ đồng bào, không bao giờ được xao lãng.


    Thế nhưng, vào Tết Mậu Thân,1968; bởi tin rằng, lệnh ngưng bắn ba ngày để cho đồng bào được vui Xuân, trong lúc mọi người đang hướng lòng tưởng niệm công đức của tiền nhân và tổ tiên của mình, thì bất ngờ tại chùa phổ Quang và chùa Nam Thiên Nhất Trụ, là nơi ẩn náu của hai tên tướng Việt cộng Trần Hải Phụng, Nguyễn Văn Bá và cũng là hai nơi trú đóng an toàn cho những "Lực lượng Biệt động thành Sài Gòn-Gia Định, thuộc Lữ đoàn 316, của cộng sản Bắc Việt, đã được lệnh của "Hòa thượng" Thích Trí Dũng và Trần Hải Phụng là "điểm khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất".



    Mặc dù người đứng đầu của chính phủ và cũng là Tổng Tư lệnh quân đội đã cùng thê tử dìu dắt nhau đi du Xuân, bỏ mặc cả nước cho cộng sản Bắc Việt xua quân đánh chiếm. Nhưng giữa lúc sinh tử ấy, vì để bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa trên khắp Bốn Vùng Chiến Thuật vẫn quyết liệt chiến đấu để giành lại từng tấc đất đã bị cộng quân đánh chiếm. Riêng tại cố đô Huế, vì có "Hòa thượng" Thích Đôn Hậu đã sẵn sàng nội công tại các "chùa" Từ Đàm, Từ Hiếu, Tường Vân ... nên cộng quân đã chiếm đóng đến gần cả một tháng trời, và những tên đao phủ, được mang danh là "nhà sư" như Đệ tam Tăng thống Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho các đệ tử xuống tay tàn sát hàng ngàn người dân vô tội, kể cả những em bé một cách vô cùng man rợ. Những hình ảnh của những bộ xương đã bị gẫy đứt, những chiếc xương ống tay, ống chân vẫn còn bị trói, là chứng tích của những cách giết người còn thua cả loài ác thú.


    Chúng ta hãy nhìn xem: Hình ảnh của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa bên cạnh một phụ nữ với tấm thân nhuộm đầy máu, hoặc đang bế cụ già, hay ôm xác một em thơ giữa vòng lửa khói, và còn một hình ảnh khác của người chiến sĩ với khuôn mặt bị thương, đã được băng kín, chỉ còn chừa đôi mắt, nhưng vẫn không rời tay súng, sẵn sàng hy sinh ngay cả mạng sống của mình để bảo vệ đồng bào, để giành lại từng tấc đất đã bị cộng quân đánh chiếm. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến đấu dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ thân yêu, đã tận hiến đời mình cho Chính Nghĩa-Quốc Gia-Dân Tộc.

              





              

    Và, chúng ta cũng hãy nhìn xem: Những hình ảnh của người Mẹ đang ôm xác con thơ, của người vợ đang gào thét bên xác chồng... là những nạn nhân đã bị giết chết dưới những bàn tay tàn ác của Phật Giáo Khối Ấn Quang và cộng sản Bắc Việt, trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968. Tất cả những hình ảnh ấy đời đời sẽ còn lưu lại cho hậu thế còn biết đến những hành vi giết người một cách tàn khốc, kinh hoàng nhất.


    Ôi! còn nỗi đau đớn nào có thể sánh bằng, khi chúng ta nhìn thấy hình ảnh của người Mẹ đang ôm xác đứa con ruột thịt của mình đã chết bởi những viên đạn thù của giặc cộng, với tiếng kêu gào xé ruột, đứt gan như Nhạc sĩ Anh Bằng đã chứng kiến, và đã ghi lại qua bài hát Chuyện Một Đêm:

              
    Chuyện một đêm khuya nghe tiếng nổ nổ vang trời
    Chuyện một đêm khuya ôi máu đổ đổ lệ rơi
    Chuyện một đêm khuya nghe tiếng than trong xóm nghèo
    Mái tranh lửa cháy bốc lên ngun ngút trời cao
    Bà mẹ đau thương như muối đổ đổ trong lòng
    Chạy giặc ôm con qua những cảnh cảnh hờn vong

    Và người con yêu đã chết trên tay lúc nào
    Xót xa vạt áo trắng hôm nay hoen máu đào

    Ai, ai cướp con tôi!
    Ai giết con tôi giữa cơn mộng đêm thái bình
    Ôi thương lời nói tội tình, hàm bao đớn đau
    Giờ mẹ con đành cách nhau!

    Bà đặt con lên đám cỏ phủ sương mờ
    Tội gì con ơi khi lứa tuổi tuổi còn thơ
    Bà nhẹ đưa môi hôn trán con yêu giá lạnh
    Vuốt ve lần cuối trước khi xa con suốt đời!!!

              
              

              


    Nhưng chưa hết, vì còn quá nhiều những hình ảnh của đồng bào vô tội đã bị hành quyết một cách vô cùng tàn ác và dã man. Vậy, xin hãy nhìn xem những xác chết không toàn thây, đầu lìa khỏi cổ... Những oan khiên, máu lệ này sẽ không bao giờ phai mờ trong tâm khảm của mọi người có lương tri ở trên thế gian này.

              

              


              

    tên Việt cộng mặc áo cà sa, Thích Trí Dũng!

              

    Đức Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy chúng sinh: Không được sát sinh - Không được vọng ngữ, tức không được nói láo. Nhưng than ôi! Giữa đêm giao thừa Tết Mậu Thân, 1968, ngay tại Thủ Đô Sài Gòn, lại có một "cao tăng" của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tức Khối Ấn Quang; đó chính là "Hòa thượng" Thích Trí Dũng đã hạ lệnh "khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất"; còn tại Huế, thì do "Hòa thượng" Thích Đôn Hậu, Chánh Đại diện Phật giáo miền Vạn Hạnh, tức miền Trung cũng của Khối Ấn Quang, đã ra lệnh cho các tay chân bộ hạ xuống tay chặt đầu, cắt cổ những lương dân vô tội. Chẳng những vậy, mà có những nạn nhân đã bị trói vào gốc Bồ Đề ở các chùa như: Từ Hiếu, Từ Đàm, Tường Vân, Quang Tự ... rồi bị bắn chết, và máu của họ đã tưới lên thân cây Bồ Đề và đã nhuộm đỏ cội Bồ Đề tại Huế.

              

    "Hòa thượng" Thích Đôn Hậu

              

    Xin quý vị Phật tử chân chính hãy bình tâm suy nghĩ: Cội Bồ Đề luôn nhắc nhở mọi người nhớ đến hình ảnh của Đức Thích Ca Mâu Ni từng ngồi tĩnh tâm, để tìm chân lý, để chỉ cho chúng sinh: "Tự đốt đuốc tìm đường mà đi", hầu mong thoát khỏi lầm mê, quay về bờ giác. Nhưng cội Bồ Đề tại các chùa tại Huế, lại là nơi nhuộm đầy những dòng máu thắm của đồng bào vô tội!!!


    Riêng tại thành phố Đà Nẵng, như loạt bài gồm 10 kỳ, với tựa đề: "Lịch Sử Đình Nại Hiên-Chùa An Long", đã chứng minh cho những điều tôi đã viết qua các bài: Cuộc Thảm Sát Thanh Bồ-Đức Lợi, 24-8-1964 - Cuộc Bạo Loạn Bàn Phật Xuống Đường, mùa hè 1966 - Tưởng Niệm Bốn mươi năm Cuộc Thảm Sát Mậu Thân: 1968-2008 và 30-4-1975: Máu và Nước Mắt.


    Nên nhớ, chùa An Long tại Đà Nẵng trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tức Khối Ấn Quang. Xin nhắc lại: tên gọi Khối Ấn Quang là do chính "Hòa thượng" Đệ ngũ Tăng thống Thích Quảng Độ, đã xác định bằng giấy trắng mực đen, chứ không phải do người khác tự nghĩ, tự đặt ra như một số người đã lầm tưởng.


    Chính vì những lẽ đó, nên tất cả những lời ngụy biện, để chạy tội cho những kẻ đội lốt là "nhà sư" nhưng không bao giờ xóa được những tội ác, vì chính họ là những tên đồ tể, vì đôi tay của "Hòa thượng" Thích Trí Dũng và của "Hòa thượng" Thích Đôn Hậu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tức Khối Ấn Quang đã nhuộm đầy máu của những nạn nhân đã chết một cách vô cùng đau đớn, như mọi người đã nhìn thấy qua những tấm hình này.


    Trở lại với Tết Mậu Thân, 1968, và người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa: chính những tấm hình biết nói ấy, nó đã tự cho mọi người biết được rằng người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa là tất cả những gì hào hùng nhất, cao quý nhất, vì đã luôn luôn giữ tròn lời Tâm Niệm: Bảo Quốc An Dân.


    "Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ?!". Ngước mặt nhìn Trời cao, để rồi tự hỏi: Những người Chiến Sĩ năm xưa, bây giờ, ai còn, ai mất, ai đau thương với những tấm thân tàn phế, ai u buồn trong kiếp sống lầm than, ai cô đơn nơi đất khách quê người, mà lòng rưng rưng tiếc nhớ về những năm tháng cũ...!!!


    Và mỗi mùa Xuân đến, là trong chúng ta, có những tâm hồn lại cứ trào dâng lên những niềm thống hận, cứ rơi nước mắt, vì hồi tưởng về một mùa Xuân Mậu Thân, 1968, với khói lửa, máu và nước mắt đã lan tràn khắp nẻo đường quê!!!


    Nguyện xin Hồn Thiêng Sông Núi Việt cho ánh mặt trời được soi rọi đến tận cùng của những nỗi thương đau; xin cho Quê Hương Việt Nam sớm thoát khỏi bàn tay của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc; xin cho người dân Việt sớm có ngày Tự Do-Dân Chủ và Thanh Bình thực sự, cho những người Việt Nam đang sống đời tỵ nạn cộng sản khắp nơi tại hải ngoại, sớm được trở về đoàn viên nơi cố lý.




    Pháp quốc, 19/1/2012
    Hàn Giang Trần Lệ Tuyền


    ------------------------------------------------------------------


    Chú Thích: Tác giả trích các báo đăng trong nước. trên tờ Thế Giới Mới số 220, xuất bản ngày thứ hai 20-1-1997 tại Sài Gòn, nơi trang 66-67 và 68. Sau đó in thành sách: “Tài Trí Việt Nam: Người Dựng Chùa Một Cột ở Miền Nam”.



    * "Tài Trí Việt Nam: Người dựng Chùa Một Cột tại Miền Nam: Hòa Thượng Thích Trí Dũng đã đóng góp cho cách mạng rất nhiều, ông là nhà sư được Hồ Chủ Tịch viếng thăm và mời cơm… Tên tuổi ông được gắn liền với quá trình xây dựng Chùa Một Cột (Nam Thiên Nhất Trụ) ở miền Nam …. Chùa Nam Thiên Nhất Trụ (NTNT) hiện tọa lạc tại số 1/90 đường Nguyễn Du, thị Trấn Thủ Đức, (TP Hồ Chí Minh), được khởi công xây dựng theo mẫu chùa Một Cột tức chùa Diên Hựu- một công trình văn hóa nỗi tiếng có từ thời Lý, ở thủ đô Hà Nội".

    "Hòa Thượng Thích Trí Dũng kể lại:

    "Khi xây dựng chùa Nam Thiên nhất Trụ (Chùa Một Cột tại miền Nam) chính quyền Ngô Đình Diệm đã nhiều lần ngăn cản vì sợ chùa sẽ khơi dậy trong lòng người dân đang sống ở nửa miền đất nước bị người Mỹ chiếm đóng, ý thức dân tộc, sự mong muốn đấu tranh cho nước nhà thống nhất, độc lập và tự do. Lúc đó, đại diện văn phòng phủ Tổng Thống Sài Gòn bảo rằng: Hòa thượng muốn làm gì thì làm nhưng không được xây Chùa Một Cột. Tôi hỏi tại sao, họ trả lời: "Nếu Chùa Một Cột được xây dựng thì sau này cộng sản Bắc Việt sẽ vào cư ngụ ở đây". (Ôi! Tổng Thống Ngô Đình Diệm là vị đã Tiên Tri được tất cả mọi sự, lời người viết). Nhưng bất chấp tất cả, chùa Nam Thiên Nhất Trụ vẫn được xây dựng. Chính trong quá trình đào hồ Long Nhãn để định móng xây chùa, những người thợ đã phát hiện ra tảng đá lớn dài 1,3m, dày 0,2m. Nhờ mãnh vỡ, mọi người mới biết đây không phải là đá, khi đập ra, họ thấy bên trong có một cổ vật bằng bạch kim, hình tròn, đường kính 0,38m, dày hơn 1cm, nặng 6,2kg, trên mặt khắc 4 chữ Hán "Ngũ Tử Đăng Khoa" và 21 hoa văn đặc sắc, cổ vật này được nhà tư sản người Hoa là Lý Long Thân đòi mua với giá 4 triệu đồng (bốn triệu đồng) và 200 lượng vàng (hai trăm lượng vàng) thời giá lúc đó. Người Mỹ khi khảo sát cổ vật cũng đã ngỏ ý được đổi bằng một bệnh viện 3 tầng với 600 giường, có đầy đủ dụng cụ Y khoa. Cả Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi biết cũng đã cử người xuống thương lượng xin được lấy cổ vật ấy, hứa sẽ đáp ứng mọi yêu cầu, nhưng tôi (HT Thích Trí Dũng) là người chủ trì việc xây cất chùa vẫn một mực chối từ và đem giấu cổ vật đi. Cho đến khi nước nhà thống nhất tôi đã tình nguyện hiến cổ vật cho nhà nước: Ngày 25-8-1988, Phó Thủ tướng Phan Văn Khải, Thượng tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Trần Hải Phụng, giáo sư Trần Văn Giàu cùng các nhà nghiên cứu khảo cổ đã đến tiếp nhận cổ vật đem vế trưng bày ở phòng "Sài Gòn xưa" của Bảo tàng cách mạng TP. Hồ Chí Minh.

    * Hòa Thượng Thích Trí Dũng kể về những thành tích cách mạng:

    "Năm 1947, hơn 2000 nhân sĩ, trí thức yêu nước bị phái Công Giáo phản động bắt giam ở nhà hầm Phát Diệm. Lúc đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Hồ Tử Du với lá thư riêng của Hồ Chủ Tịch đã đến Đồng Đắc ủy nhiệm cho tôi - trên cương vị Đại diện Phật giáo Cứu quốc Trung ương - bằng mọi cách phải giải thoát. Nhờ sự hậu thuẫn của cách mạng, việc giải thoát đã thành công. Với thành tích này, tôi được Hồ Chủ Tịch khen thưởng và được tướng Nguyễn Sơn mời làm cố vấn. Sau khi giải thoát cho 2000 nhân sĩ, trí thức, tôi bị bọn Công Giáo phản động tuyên án tử hình. Để tránh sự trả thù và thể theo yêu cầu của một số Phật tử Nam Kỳ, năm 1953 tôi vào miền Nam.

    Từ khi vào Nam tôi đã xây chùa Linh Giác ở Đà Lạt, chùa Phổ Chiếu, Phổ Minh ở Gò Vấp, chùa Phổ Quang ở Tân Bình, tôi quyết đinh xây dựng Chùa Một Cột tại làng Đại Học Thủ Đức, phỏng theo mô hình Chùa Diên Hựu (Một Cột) ở Hà Nội. Bị chính quyền Ngô Đình Diệm cản ngăn, tôi về mướn người rào kín khu đất định xây chùa lại, thuê thợ đến làm từ 4 giờ chiều đến 11 giờ đêm. Biết được sự kiện tôi lén xây dựng chùa, chính quyền Diệm sai người đến yêu cầu tôi phá ngay vì lý do chính trị. Tôi nói với họ: Tôi chỉ biết xây chứ không biết phá. Cản ngăn không được, họ lại đưa tiền cho tôi để tôi xây dựng chùa khác, nhưng tôi không chịu. Thế là họ đành để tôi xây dựng chùa mà không lấy tiền lại.

    Năm 1964, tại Chùa Một Cột (Nam Thiên Nhất Trụ) Thủ Đức qua trung gian là anh Bùi Kỳ Vân, anh Nguyễn Đức Lộc là Chính trị viên đội Biệt động Thủ Đức, tôi gặp anh Nguyễn Văn Bá, ông Nguyễn Văn Thăng hiện đều là anh hùng Quân đội Nhân dân Việt Nam và đều ở Đội Biệt động Sài Gòn-Gia Định ngày ấy. Họ đã nhờ tôi tạo điều kiện cho Lực lượng Biệt động Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316 xây dựng cơ sở bí mật tại Chùa Một Cột và Chùa Phổ Quang ở gần sân bay Tân Sơn Nhất-là hai ngôi chùa do tôi kiến tạo và trụ trì. Tôi đồng ý, thế là hai ngôi chùa này trở thành hai cơ sở hoạt động bí mật của Biệt động Sài Gòn-Gia Định cho đến ngày 30-4-1975.

    Trong cuộc Tổng công kích Mậu Thân 1968, Chùa Phổ Quang là điểm khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất; ở đây tôi đã qua mắt địch, để che giấu một số lượng lớn vũ khí và Lực lượng Biệt động Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316. Chùa Phổ Quang cũng là nơi ở của Thiếu tướng Trần Hải Phụng và anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Bá, chùa thường xuyên bị địch để ý. Để che mắt địch, chúng tôi đã cạy nắp mồ Ngô Đình Cẩn em ruột Ngô Đình Diệm, chôn trong chùa Phổ Quang để giấu vũ khí. Chính vì vậy, địch không ngờ tới. Còn sự di chuyển của các chiến sĩ Lực lượng Biệt động thì đích thân tôi đã lái xe hơi chở họ nên địch không thể ngờ được. Vì thế, vũ khí và con người được giữ gìn cho đến giờ chót".




    ----------------------------------------------------------









    Lịch Sử Phật Tử GHPGVNTN
              
    chống VNCH,
    chống MỸ,
    treo cờ MTGPMN
    tại Đình Nại Hiên - Chùa An Long





    - Ông Nguyễn Đình Liệu đã cho giương cao cờ của Mặt trận Giải Phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam tại vườn hoa Diên Hồng và vườn hoa phía trước Cổ Viện Chàm. Đây là lần đầu tiên cờ của Mặt trận Giải phóng công khai xuất hiện tại Đà Nẵng.


    - Tháng 3.1966, Nguyễn Đình Liệu và Thượng tọa Thích Minh Tuấn cho thành lập “Lực lượng thanh niên phật tử cứu quốc”.


    Ngày 22.8.1964, từ chùa An Long và chùa Tỉnh hội, ông Nguyễn Đình Liệu, Phan Chánh Dinh, Thượng tọa Thích Minh Tuấn, Thích Minh Chiếu … dẫn đầu đoàn biểu tình đi đến sân vận động Chi Lăng dự mít-ting hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ-Khánh”.


    - Trong tháng tư, ông Nguyễn Đình Liệu chỉ đạo cho các thanh niên phật tử Nại Hiên và học sinh trường Bồ đề thực hiện chiến dịch “đốt xe Mỹ”, đã có một vụ đốt xe như vậy xảy ra ở đầu đường Bạch Đằng, trước Cổ viện Chàm: một chiếc xe Jeep nhà binh trên xe có hai sĩ quan, một Mỹ và một Nam Hàn vừa chạy trờ đến, thì các thanh niên phật tử từ chùa An Long xông ra chặn đường và lôi hai sĩ quan này xuống đất, hai sĩ quan này hốt hoảng kêu cứu thì bị đánh, cùng lúc các thanh niên phật tử khác tưới xăng vào xe và châm lửa đốt. Hai sĩ quan này may mắn chạy vào khách sạn Moderne gần đấy nên thoát chết.


    - ngày 1.7.1967, Ông Lê Duẫn viết thư ban khen GHPGVNTN-AQ trong bức thư gửi Thành ủy Sài gòn - Gia định đề ngày 1.7.1967, ông Lê Duẩn, bí thư thứ nhất BCHTW Đảng, đã viết:


    “Cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng chống Thiệu – Kỳ từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1966, tuy không đem lại thắng lợi, nhưng đã cho ta một bài học bổ ích về lợi dụng mậu thuẫn nội bộ địch. Lúc đầu cuộc nổi dậy đó là không phải do ta chủ động mà nhân cơ hội nội bộ địch chống đối lẫn nhau, ta đã biết tập hợp, phát động quần chúng đứng lên làm chủ thành phố. Mặc dù cơ sở Đảng mỏng và lực lượng cách mạng trong thành phố không nhiều, các đồng chí ở Đà Nẵng đã làm được việc đó. Nhưng thiếu sót ở đây là các đồng chí ở Đà Nẵng chưa tranh thủ được thuận lợi để phát triển thực lực cách mạng … Bài học về cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng rất phong phú”.




    Kỳ 9: Chùa An Long trong cao trào đấu tranh Phật giáo (chống VNCH) tại Đà Nẵng:


    Lễ Phật đản năm 1963, chính quyền Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo tại Huế. Đông đảo tăng ni, phật tử kéo đến đài phát thanh Huế để phản đối. Thiếu tá Đặng Sĩ, tỉnh phó nội an Thừa Thiên - Huế, đã huy động cảnh sát, xe thiết giáp đến đàn áp cuộc đấu tranh, bắn giết đồng bào phật tử. Trước tội ác của địch, phong trào đấu tranh Phật giáo nổ ra khắp miền Nam. Đồng bào phật tử ở Đà Nẵng cũng xuống đường phối hợp đấu tranh.


    Nhận chỉ thị của Thành ủy chủ trương vận động nhân dân đấu tranh dưới hình thức “ngọn cờ Phật giáo, ngòi pháo học sinh”, ông Nguyễn Đình Liệu lãnh đạo đông đảo tăng ni, phật tử, thanh niên trong khuôn hội Nại Hiên Tây tổ chức cầu siêu trong mùa Pháp nạn, thuyết pháp, biểu tình, hô vang khẩu hiệu “đả đảo chế độ độc tài Ngô Đình Diệm!”. (Chống VNCH)


    Từ chùa An Long, ông đã dẫn đoàn biểu tình tiến về chùa Tỉnh hội Đà Nẵng (nay là chùa Pháp Lâm, số 500 đường Ông Ích Khiêm) đồng thời làm công tác binh vận, lôi kéo các binh lính theo đạo Phật đứng về với nhân dân. Cảnh sát, An ninh quân đội vùng 1 chiến thuật đi đàn áp đoàn biểu tình đã bị thanh niên phật tử chống trả quyết liệt. Ngày 3 tháng 11 năm 1963, dưới sự hậu thuẫn của ông trùm đảo chính Logde, một nhóm tướng tá Nam Việt Nam tự xưng là Hội đồng quân nhân Cách mạng do Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn … cầm đầu đã tiến hành đảo chính, và sau đó giết chết anh em Diệm-Nhu. Nhiều thanh niên phật tử trong khuôn hội Nại Hiên Tây tham gia phong trào diệt “dư đảng Cần lao”, truy quét ác ôn ở địa phương.


    Nhưng chỉ sau đó 3 tháng, ngày 30 tháng 1 năm 1964, được sự ủng hộ của Mỹ và "nhóm các tướng trẻ", tướng Nguyễn Khánh đã thực hiện cuộc "chỉnh lý" cướp quyền, truất phế các tướng lĩnh chủ chốt của cuộc đảo chính là Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân. Nguyễn Khánh tự xưng là chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng kiêm Tổng tư lệnh quân đội. Ngày 28 tháng 2 năm 1964, Nguyễn Khánh phế truất chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ và lên làm thủ tướng. Ngày 16 tháng 8 năm 1964, ông ta ban hành "Hiến chương Vũng Tàu", theo đó ông ta là Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, kiêm Quốc trưởng, kiêm Thủ tướng của Việt Nam Cộng hòa, cũng như là Tổng tư lệnh, kiêm Tổng tham mưu trưởng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Uy quyền của ông ta lên đến mức tột đỉnh. Tuy nhiên, tướng Khánh đã vấp sự phản đối quyết liệt của quần chúng nhân dân. Các cuộc biểu tình chống tướng Khánh nổ ra khắp nơi. Ông Nguyễn Đình Liệu lại tham gia lãnh đạo phong trào phật tử phối hợp với lực lượng học sinh sinh viên đấu tranh chống độc tài, đòi xé bỏ “Hiến chương Vũng Tàu”. Để bảo vệ cho các cuộc biểu tình, ông Nguyễn Đình Liệu và Thượng tọa Thích Minh Tuấn cho thành lập “Lực lượng thanh niên phật tử cứu quốc”.


    Ngày 22.8.1964, từ chùa An Long và chùa Tỉnh hội, ông Nguyễn Đình Liệu, Phan Chánh Dinh, Thượng tọa Thích Minh Tuấn, Thích Minh Chiếu … dẫn đầu đoàn biểu tình đi đến sân vận động Chi Lăng dự mít-ting hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ-Khánh”.


    Sau đó đoàn biểu tình kéo xuống Tòa Thị Chính Đà Nẵng. Khi đến trước Tòa Thị Chính ở đường Bạch Đằng, Lực lượng thanh niên phật tử cứu quốc đã dùng loa phóng thanh kêu gọi Hải quân Đại tá Lê Quang Mỹ, Thị trưởng Đà Nẵng, phải ra trình diện và phải bàn giao chức Thị trưởng Đà Nẵng cho nhân dân. Đại tá Lê Quang Mỹ hốt hoảng trốn ra cửa sau, rồi chạy đến Bộ tư lệnh Hải quân vùng 1 Duyên hải ở Tiên Sa để tị nạn. Nhân dân đã làm chủ Tòa Thị Chính trong vòng 9 ngày (22.8 à 2.9.1964). Trong những ngày sôi động đó, ông Nguyễn Đình Liệu đã cho giương cao cờ của Mặt trận Giải Phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam tại vườn hoa Diên Hồng và vườn hoa phía trước Cổ Viện Chàm. Đây là lần đầu tiên cờ của Mặt trận Giải phóng công khai xuất hiện tại Đà Nẵng và đây cũng là một thắng lợi chính trị to lớn của nhân dân Đà Nẵng nói chung và nhân dân Nại Hiên nói riêng.


    Tình hình miền Nam dưới sự quản lý của tướng Khánh ngày càng loạn lạc, giai đoạn tướng Khánh nắm quyền là giai đoạn nổ ra nhiều cuộc đảo chính nhất, uy tín của tướng Khánh càng lúc càng xuống thấp và ngày càng mất lòng dân. Nhóm các tướng trẻ, do đó, thống nhất truất phế tướng Khánh. Hai tướng trẻ Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ lên nắm chính quyền.


    Tháng 3.1966, trong cao trào đấu tranh phật giáo tại Đà Nẵng chống Thiệu – Kỳ, “lực lượng nhân dân tranh thủ cách mạng vùng 1 chiến thuật” được thành lập, Đặc khu uỷ đã đưa 5 cán bộ, trong đó có ông Nguyễn Đình Liệu, tham gia vào Ban lãnh đạo các tổ chức đấu tranh. Ông Nguyễn Đình Liệu được cử phụ trách “lực lượng phật tử tranh thủ cách mạng”. Các tướng tá ở vùng 1 như Trung tướng Nguyễn Chánh Thi - Tư lệnh vùng 1, Đại tá Nguyễn Văn Mô - Tham mưu trưởng vùng 1, Đại tá Đàm Quang Yêu - Tư lệnh Biệt khu Quảng Đà ... đều ủng hộ phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Ngày 25.3.1966, nhân dân đã thực sự làm chủ được thành phố Đà Nẵng.


    Trước cao trào đấu tranh cách mạng của nhân dân thành phố Đà Nẵng, Thiệu – Kỳ quyết định đem quân từ Sài Gòn ra đàn áp. Ban đầu, Thiệu – Kỳ định sử dụng quân Nhảy dù, nhưng khốn nỗi, tướng Nguyễn Chánh Thi từng là “quan thầy” của tướng Dư Quốc Đống, tư lệnh Nhảy dù, mà tuớng Đống lại không muốn mang tiếng “phản thầy” nên không chịu đưa quân đi. Các tướng tá Sài gòn phần lớn cũng ngán tướng Nguyễn Chánh Thi nên chẳng ai muốn đi. Cuối cùng, Nguyễn Cao Kỳ nhờ đến một người bạn thân thiết của mình là Trung tá Nguyễn Thành Yên, Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn A Thủy quân lục chiến, cầm quân ra Đà Nẵng để đàn áp phong trào phật giáo.


    Đổ quân xuống phi trường Đà Nẵng, Trung tá Yên được Thiệu – Kỳ bổ kiêm nhiệm chức Quân trấn trưởng Đà Nẵng để danh chính ngôn thuận cho việc đàn áp. Trung tá Yên nhanh chóng cho Thủy quân lục chiến tấn công chùa Tỉnh hội, dẹp bỏ các bàn thờ Phật ở các đường lân cận đó. Tiếp theo, Trung tá Yên đưa quân về hướng chùa An Long. Khi Thủy quân lục chiến chuẩn bị dẹp các bàn thờ Phật ở đây thì vấp sự chống trả quyết liệt của lực lượng phật tử tranh thủ cách mạng do ông Nguyễn Đình Liệu lãnh đạo. Khốn nỗi, Trung tá Yên là cháu của ông Nguyễn Đình Liệu (cụ thân sinh của Trung tá Yên, Nguyễn Thanh Xáng, là anh em chú bác ruột với ông Nguyễn Đình Liệu) nên Trung tá Yên ra lệnh lui quân (năm 1970, ông Nguyễn Thành Yên là Đại tá phó Tư lệnh Sư đoàn TQLC).


    Trong tháng tư, ông Nguyễn Đình Liệu chỉ đạo cho các thanh niên phật tử Nại Hiên và học sinh trường Bồ đề thực hiện chiến dịch “đốt xe Mỹ”, đã có một vụ đốt xe như vậy xảy ra ở đầu đường Bạch Đằng, trước Cổ viện Chàm: một chiếc xe Jeep nhà binh trên xe có hai sĩ quan, một Mỹ và một Nam Hàn vừa chạy trờ đến, thì các thanh niên phật tử từ chùa An Long xông ra chặn đường và lôi hai sĩ quan này xuống đất, hai sĩ quan này hốt hoảng kêu cứu thì bị đánh, cùng lúc các thanh niên phật tử khác tưới xăng vào xe và châm lửa đốt. Hai sĩ quan này may mắn chạy vào khách sạn Moderne gần đấy nên thoát chết.


    Thấy chưa đàn áp được phong trào cách mạng, ngày 15.5.1966 Thiệu – Kỳ tiếp tục đưa quân ra Đà Nẵng. Nhân dân Đà Nẵng đã anh dũng đánh trả quân chính phủ, nhưng do lực lượng ta còn yếu nên ngày 23.6, quân Thiệu – Kỳ đã làm chủ thành phố. Để xoa dịu phong trào cách mạng của nhân dân Đà Nẵng, Trung tá Nguyễn Thành Yên, Chiến đoàn trưởng Thủy quân lục chiến kiêm Quân trấn trưởng Đà Nẵng, đã lên Đài phát thanh Đà Nẵng phát lời kêu gọi như sau:


    “ … Nghiêm cấm quân sĩ không được xâm phạm chốn tôn nghiêm, tuyệt đối không được nổ súng bắn trả lại quân phản loạn cho dù có bị thương vong. Đồng thời kêu gọi đồng bào hãy tiếp tay quân đội chính phủ, khiêng các bàn thờ Phật tổ để tạm yên trên lề đường cho xe cộ lưu thông, vãn hồi an ninh trên lãnh thổ Quảng Nam-Đà Nẵng. Nhưng nhớ phải cẩn thận không được làm ngã đổ tắt nhang đèn”.


    Khi quân Thiệu – Kỳ chiếm thành phố, các cán bộ lãnh đạo của ta đã rút lui an toàn, những cán bộ có vỏ bọc hợp pháp, như ông Nguyễn Đình Liệu, tiếp tục ở lại lãnh đạo phong trào. Đánh giá về sự kiện này, trong bức thư gửi Thành ủy Sài gòn - Gia định đề ngày 1.7.1967, ông Lê Duẩn, bí thư thứ nhất BCHTU Đảng, đã viết: ( Ông Lê Duẫn khen GHPGVNTN-AQ có công tiếp tay cho cách mạng)


    “Cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng chống Thiệu – Kỳ từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1966, tuy không đem lại thắng lợi, nhưng đã cho ta một bài học bổ ích về lợi dụng mậu thuẫn nội bộ địch. Lúc đầu cuộc nổi dậy đó là không phải do ta chủ động mà nhân cơ hội nội bộ địch chống đối lẫn nhau, ta đã biết tập hợp, phát động quần chúng đứng lên làm chủ thành phố. Mặc dù cơ sở Đảng mỏng và lực lượng cách mạng trong thành phố không nhiều, các đồng chí ở Đà Nẵng đã làm được việc đó. Nhưng thiếu sót ở đây là các đồng chí ở Đà Nẵng chưa tranh thủ được thuận lợi để phát triển thực lực cách mạng … Bài học về cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng rất phong phú”.





    Kỳ 10: Chùa An Long trong Tết Mậu Thân 1968


    Trong cuộc tổng tiến và nổi dậy Tết Mậu thân 1968, chùa An Long đã đóng một vai trò hết sức to lớn. Ông Nguyễn Đình Liệu, Bùi Sĩ Tấn cùng một số cơ sở tiếp nhận và cất giấu một lượng lớn vũ khí tại hầm bí mật dưới chân tượng Phật tại chùa An Long. Ngày 29 Tết, ông Nguyễn Đình Liệu chỉ đạo các cơ sở, học sinh sinh viên, tăng ni, phật tử viết khẩu hiệu, biểu ngữ, bàn phương án phối hợp với các mũi đấu tranh trong thành phố, biến chùa An Long thành một trong những trung tâm lãnh đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân ở nội thành Đà Nẵng.



    Sau khi chuẩn bị xong, tối 29 Tết, một cơ sở ta dùng xe Jeep chở ông Nguyễn Đình Liệu cùng cờ Mặt trận Giải phóng, khẩu hiệu, biểu ngữ lên chùa Tỉnh hội để phối hợp với lực lượng ở đây chuẩn bị nổi dậy. Sáng mồng 1 Tết, đông đảo quần chúng nhân dân đã tập họp tại chùa Tỉnh hội. Tuy thiếu sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhưng các vị lãnh đạo Đặc khu ủy vẫn cho tiến hành nổi dậy theo kế hoạch. Ông Phan Chánh Dinh (còn có tên là Phan Duy Nhân và Nguyễn Chính, sau 1975 là cán bộ lãnh đạo ở Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, và về sau là Quyền Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ) cầm loa dẫn đầu đoàn biểu tình, hô hào quần chúng nổi dậy. Đoàn biểu tình kéo từ chùa Tỉnh hội ra đường Ông Ích Khiêm thì bị địch đàn áp. Ông Phan Chánh Dinh bị bắn gãy chân và bị bắt đem về Ty Cảnh sát Gia Long, sau đó bị giải qua Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình và nhà lao Kho Đạn, Đà Nẵng. Địch ra lệnh thiết quân luật và bắn vào đoàn biểu tình. Ông Nguyễn Đình Liệu được cơ sở đưa về ẩn náu tại chùa An Long.


    Sáng mồng 4 Tết, các ông Nguyễn Đình Liệu, Hà Kỳ Ngộ đều bị bắt vì có một cơ sở khai báo với địch. Nguyên nhân như sau: ngày 29 Tết, một cơ sở của ta, ông Nguyễn Hiếu, chủ nhà may Đồng Tân ở đường Độc Lập (nay là đường Trần Phú), được giao nhiệm vụ chở một số vũ khí từ Nam Ô đến cất giấu tại chùa An Long, trên đường vào nội thành thì xe ông Nguyễn Hiếu bị Biệt động quân chặn lại ở Ngã Ba Huế, khi khám xe thấy có chứa vũ khí nên toán Biệt động quân này bắt giữ ông Nguyễn Hiếu rồi chuyển cho An ninh quân đội, tại đây Hiếu đã khai ra địa điểm chùa An Long là nơi cất giấu vũ khí và khai thêm một số cơ sở bí mật nữa.

    Tôi xin trích nguyên một đoạn viết của tác giả Hàn Giang Trần Lệ Tuyền (trên trang webwww.mauthan68.blogspot.com) về vụ bố ráp chùa An Long vào sáng mồng 4 Tết Mậu Thân: “Và cũng qua điều tra bởi vụ án này [Nguyễn Hiếu] mà chính quyền đã huy động một lực lượng gồm An Ninh Quân Đội-Ban II Đặc Khu Quân Trấn- Biệt Động Quân, đột nhập vào ngôi chùa của Khuôn hội Nại Hiên Tây (vì cảnh sát không bao giờ dám khám xét chùa), sau lưng Cổ Viện Chàm, trước trường Trung học Sao Mai, phía trái có nhiều kho chứa xăng, bên cạnh có cầu tàu thuộc Quân cảng dùng để tiếp nhận chiến cụ; thường được gọi là Cầu Đạn, phía trên là cầu Trình Minh Thế, nối liền một quãng đường ngắn khoảng hơn 100 mét là Trại Nguyễn Tri Phương, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Quân Khu 1. Và đã khám phá ra được một căn hầm bí mật ngay dưới Chánh điện thờ Phật, phía trên được ngụy trang bằng một pho tượng Phật to lớn là nắp hầm để che giấu hơn hai trăm khẩu súng, đạn đủ loại và chất nỗ TNT. Người quản nhiệm ngôi chùa này là một Khuôn hội trưởng - Giáo sư Nguyễn Đình Liệu dạy tại trường Trung học Bồ Đề do Thượng tọa Thích Minh Tuấn làm Hiệu trưởng ;( ngày 29/3/1975, Thích Minh Tuấn đã công khai đưa cả đoàn xe ra tận núi rừng để rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố Đà nẵng). Sau đó ông Nguyễn Đình Liệu bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận và bị kết án 10 năm tù ở, thụ án tại Chí Hòa. Năm 1973, ông Liệu được trao trả nhân viên dân sự tại Lộc Ninh”.


    Hầu hết các chi tiết trong đoạn viết trên là chính xác, duy có ba chi tiết chưa thật chính xác, xin đính chính lại: thứ nhất, ông Nguyễn Đình Liệu không phải là Giáo sư dạy tại trường Trung học Bồ Đề mà chỉ có chân trong ban trị sự trường Bồ Đề; thứ hai là ông Liệu được trao trả theo diện nhân viên dân sự tại Thạch Hãn chứ không phải tại Lộc Ninh; và cuối cùng, ông Nguyễn Đình Liệu thụ án ở Côn Đảo chứ không phải tại Chí Hòa như tác giả Hàn Giang đã viết.


    Cũng trong ngày hôm đó, do Nguyễn Hiếu khai báo nên An ninh quân đội đã ập vào nhà bà Nguyễn Thị Sự (nay là số nhà K191/17 Ông Ích Khiêm, phường Thạch Thang, quận Hải Châu) và bắt ông Hà Kỳ Ngộ (thường vụ Đặc khu ủy).


    Địch đem ông Nguyễn Đình Liệu và ông Hà Kỳ Ngộ về giam tại Kho Đạn. Tại đây, hai ông bị địch tra tấn dã man. Ông Nguyễn Đình Liệu bị địch dùng dùi cui đánh vào mang tai nên về sau này ông đã bị điếc nặng, phải dùng máy trợ thính luôn. Không moi được tin tức gì nên địch mang hai ông ra xử tại toà án Quân đội. Ông Nguyễn Đình Liệu bị tuyên án 10 năm tù, ông Hà Kỳ Ngộ bị án chung thân và cả hai ông bị địch đưa ra Côn Đảo.


    Năm 1973, ông Nguyễn Đình Liệu được chính quyền Việt Nam Cộng hòa trao trả cho Mặt trận Giải phóng theo diện chính trị phạm dân sự tại Thạch Hãn. Thấy ông tuổi cao, sức yếu lại bị thương tật trong chốn lao tù nên Trung ương đã bố trí ông đi nghỉ tại Trạm tiếp đón cán bộ miền Nam T72 tại Khu an dưỡng Sầm Sơn (Thanh Hoá).


    Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 1975, từ ngày 2.5.1975 đến 31.1.1977, Trung ương đưa ông về lại Liên khu 5, Ban Tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng bố trí ông đi nghỉ an dưỡng tại trại Đón tiếp tỉnh QN-ĐN.


    Ngày 1.2.1977, ông Nguyễn Đình Liệu chính thức được nghỉ hưu trí theo quyết định 54/QĐ/HT ký ngày 20.12.1976 của UBND tỉnh QN-ĐN. Kể từ đó, ông trở về sum họp với gia đình ở ngôi nhà xưa tại đường Trưng Nữ Vương, phường Bình Hiên, quận Nhất (nay là Hải Châu), Tp Đà Nẵng. Mặc dù tuổi cao, sức yếu nhưng ông vẫn tham gia sinh hoạt đảng tại đảng bộ phường Bình Hiên, chủ trì việc cúng tế tại địa phương và giành khoảng thời gian cuối đời để viết lịch sử về làng Nại Hiên, đình Nại Hiên, chùa An Long và lập gia phả tộc Nguyễn Thanh. Tài liệu này được viết, cũng một phần, là dựa trên các di cảo của ông Nguyễn Đình Liệu do anh Nguyễn Dục Anh (cháu đích tôn của ông Nguyễn Đình Liệu) đang giữ gìn và bảo quản. Ông Nguyễn Đình Liệu qua đời vào ngày 16 tháng 10 năm 1984 tại tư gia trong niềm thương tiếc vô bờ của đông đảo đồng bào đồng chí tại Quảng Nam - Đà Nẵng và toàn thể con cháu trong chư phái tộc làng Nại Hiên.


    Sau Mậu Thân 1968, do đã bị lộ nên chùa An Long không còn là cơ cở cách mạng nữa. Thầy Thân bị liên đới không làm trụ trì, Đại đức Thích Như Dục từ chùa Tỉnh hội về trụ trì tại chùa An Long.


    Như vậy, trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vẻ vang của nhân dân ta, chùa An Long cũng đã đóng góp ít nhiều công sức vào đấy. Từ năm 1962 đến năm 1968, chùa An Long đã là:



    - một cơ sở che giấu và nuôi dưỡng cán bộ ta,
    - một địa điểm bí mật để tập kết và cất giấu vũ khí, tài liệu, máy đánh chữ …cho cách mạng,
    - một trong những trung tâm lãnh đạo các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân trong lòng đô thị Đà Nẵng dưới vỏ bọc phong trào đấu tranh Phật giáo,
    - một trong những trung tâm lãnh đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân ở nội thành Đà Nẵng.





    Kỳ cuối: Thay cho lời kết


    Kể từ lúc các vị Tiền - Hậu Hiền làng Nại Hiên vào khai khẩn mảnh đất dọc theo hai bên bờ sông Hàn đến nay là vừa tròn 535 năm. Tổ tiên làng đã xây đình Nại Hiên, dựng chùa An Long và từ đó đình, chùa là nơi sinh hoạt tinh thần, tôn giáo, là nơi dân làng tổ chức những hoạt động lễ hội và là nơi giữ gìn những nét đẹp văn hóa xưa.


    Ngày nay, mặc dầu đã trở thành thị dân nhưng nhân dân Nại Hiên vẫn không bao giờ mờ nhạt ý thức cộng đồng làng xã, họ tộc tổ tiên, vẫn duy trì những sinh hoạt văn hóa tinh thần, tôn giáo, bởi vì những sinh hoạt văn hóa tại đình Nại Hiên và chùa An Long vào các lễ tế chư vị thần chủ làng hay lễ Phật Đản, lễ Vu Lan . . . là dịp tốt nhất để mọi người tìm về cội nguồn, ôn lại truyền thống, ngưỡng vọng tổ tiên và giải tỏa mối lo âu thường nhật, làm dịu bớt nỗi đau tinh thần hay gửi gắm khát vọng thầm kín mà thực tại chưa hoặc không giải quyết được. Thực tế cho thấy những sinh hoạt văn hóa này không chỉ đã góp phần vào việc giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” đối với những người có công với làng xã, với họ tộc mà còn giáo dục truyền thống yêu quê hương đất nước, gắn bó với quê hương, với mảnh đất Nại Hiên đã thấm đẫm mồ hôi, xương máu của ông cha, qua đó làm tăng cường ý thức gắn kết cộng đồng của dân làng trong cuộc sống đầy những thay đổi của thời hội nhập văn hóa. Hội nhập văn hóa đang là một xu thế mang tính phổ biến trong thời đại hôm nay, nhưng hội nhập không đồng nghĩa với hòa tan mà hội nhập văn hóa phải đi cùng với việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, những nét đẹp văn hóa xưa và những di tích của tổ tiên.


    Nhưng đình Nại Hiên và chùa An Long đâu chỉ là nơi giữ gìn những nét đẹp văn hóa xưa mà còn là nơi ghi dấu bao chiến công anh dũng, bao thành tích cách mạng của nhiều thế hệ dân làng Nại Hiên trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đình lớn Nại Hiên là nơi ông Án Nại đặt đại bản doanh của nghĩa quân Nghĩa hội chống Pháp, đình nhỏ Nại Hiên là nơi chứng kiến sự ra đời của Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời xã Nại Hiên trong những ngày Cánh mạng Tháng Tám lịch sử. Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa An Long là nơi che giấu và nuôi dưỡng cán bộ, là nơi tập kết và cất giấu vũ khí, tài liệu, máy đánh chữ …cho cách mạng, là nơi lãnh đạo các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân trong lòng đô thị Đà Nẵng dưới vỏ bọc phong trào đấu tranh Phật giáo, là nơHanGiangTranLeTuyen_TetMauThan1968VaNguoiChienSiVNCH.htmi lãnh đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân ở nội thành Đà Nẵng.


    Trải qua bao lần dâu bể, bao cơn phong ba bão táp và bao phen khói lửa chiến chinh, đình chùa vẫn còn đứng đấy, trầm mặc nhìn dân làng Nại Hiên theo dòng đời xuôi ngược, như để làm chứng tích cho một lịch sử vẻ vang mà nhiều thế hệ dân làng Nại Hiên đã và đang chung tay gây dựng.


    Hậu thế xin đời đời tri ân công đức cao dày của Tiền nhân!


    Đình Nại Hiên, chùa An Long
    Năm trăm năm sử trong lòng hằng ghi


    Nại Hiên - An Long, mùa Vu Lan, Kỷ Sửu (2009) Đinh Bá Truyền


    https://hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTu ... SiVNCH.htm
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Những mùa Xuân đơn vị

Bài viết bởi Hoàng Vân »

  •           




    Những mùa Xuân đơn vị
    ___________________________
    Hieunguyen11






    Mỗi lần nhìn từng đàn én bay về cùng những hoa rừng thi nhau nở rộ nơi dừng quân, báo hiệu mùa Xuân đang trở lại. Người lính tuy miệt mài trong lửa đạn cũng lang thang đi chặt mai rừng mang vào làng để tặng những gia đình, đặc biệt là các cô thôn nữ. Đó cũng là niềm vui để an ủi phần nào cho người ngày đêm đi giữ quê hương, xóm làng. Tình quân dân như cá với nước là đây. Dân làng cũng luộc những rổ khoai bắp để đáp lại tấm chân tình của người lính.


    Có lần ông đơn vị trưởng thật chịu chơi, đưa cả Chi Đội M113 vào giữ an ninh để anh em dựng lều, trình diễn văn nghệ giúp vui đồng bào ngay nhà lồng chợ tại xã Cẩm Mỹ, Long Khánh. Ông Chi Đoàn Trưởng giao tôi trách nhiệm tổ chức buổi văn nghệ giúp vui này. Thời gian vui nhất là lúc tập dợt, ai cũng ráng sức để khỏi bị bể dĩa. Chuẩn bị một bộ Treillis ủi hồ láng coóng, một đôi giày Saut thật bóng. Ngày trình diễn chờ đợi rồi cũng tới, chương trình cũng có nhạc, vũ, kịch “Tình Chú Thoòng” kiểu tự biên, tự diễn, những nghệ sĩ nghiệp dư toàn là đực rựa.


    Hôm đó tôi phải kiêm đủ thứ, vừa là MC, vừa là ca sĩ nghiệp dư, vừa là kịch sĩ. Bài hát mở đầu tôi lên hát bài “Người Đẹp Bích La Thôn”


    “…Có chàng hiên ngang ấy”

    “Mặc chiến phục đàng hoàng”

    “Ra kính thưa quý vị”

    “Tôi hát bài Tơ Vương…”


    Bài hát này mãi cho tới giờ tôi không còn được nghe nữa, nó đã đi vào quên lãng !


    Tuy là buổi văn nghệ dã chiến nhưng cũng được đồng bào hưởng ứng, vỗ tay nồng nhiệt, nhất là trẻ em. Sau buổi trình diễn này cũng xảy ra nhiều mối tình giữa người lính đơn vị với các cô thôn nữ, có những mối tình đã đi tới hôn nhân, vợ chồng, rồi cũng có những đám cưới nhà binh rất vui, và cũng có những cô gái trẻ trở thành goá phụ. Tôi cũng đã để lại đây một mối tình tan vỡ!


    Có những mùa Xuân rất buồn vì không được về nhà ăn Tết với gia đình, tất cả đơn vị cấm trại 100% trên khắp Quân Khu sau cái Tết Mậu Thân 1968. Bài hát Xuân Này Con Không Về của Duy Khánh nghe mà não nuột! Ở nơi đóng quân nghe những bản nhạc Xuân từ Radio mà nhớ nhà da diết! Tối mồng một nghe em gái Dạ Lan chúc Tết các anh chiến sĩ trên khắp nẻo đường đất nước, giọng Bắc trầm ấm, trong trẻo của Dạ Lan đã làm say đắm biết bao tâm hồn của những người lính trẻ. Thời đó tất cả chiến sĩ đủ mọi Quân, Binh Chủng khắp bốn vùng chiến thuật ai cũng yêu mến tiếng nói Dạ Lan.


    Mùa Xuân 1975 đơn vị đóng ở ngã ba Ông Đồn để giữ an ninh trục lộ Võ Đắc, Võ Su thuộc Quận Tánh Linh. Ở đây anh em cắt tranh dựng lều để chuẩn bị ăn Tết, kho thịt, mua rượu, bánh chưng, bánh tét. Chúng tôi cũng dựng lên một cây nêu để đón Tết cho đơn vị. Việt Cộng thường lợi dụng những ngày Tết để đánh phá. Đêm giao thừa chúng đã đánh đặc công vào bộ chỉ huy Thiết Đoàn làm Thiếu Tá Thân, Thiết Đoàn Phó, Thiếu Tá Viễn Sum tử thương, Đại Uý Nhơn bị thương vì Beta phỏng rất nặng. Tất cả Chi Đoàn nhận lệnh lên tiếp cứu, chúng tôi phải thu dọn để lên đường, thế là không còn Tết nhứt gì nữa.


    Những mùa Xuân đơn vị có cả kỷ niệm vui buồn đã lưu lại trong ký ức của anh em Chi Đoàn không bao giờ quên được. Bây giờ những anh em này có người là thương binh phải ở lại quê nhà sống lây lất với vết thương trên người lẫn trong lòng, có người đã ra đi vĩnh viễn, và mình cùng nhiều mảnh đời trôi nổi, tha phương thật buồn!


    Lúc hai đứa con gái tôi còn nhỏ, chúng hỏi: “Sao ba không ở Viêt Nam mà qua Mỹ làm gì?” Tôi nói: “Vì tương lai của con, và nhất là ba không muốn thấy con đeo khăn quàng đỏ, và hát những bài hát ca tụng hổ chí minh.” Tôi cũng đã kể lại hành trình vượt biển cho chúng nghe: “Ba đã bỏ ông bà nội, tất cả để ra đi, phải mang cả sinh mạng mình đổi lấy tự do.”


    Đâu có ai muốn bỏ quê hương, đất nước ra đi. Những người ra đi đều có một ước mơ chung là ngày trở về khi không còn cộng sản hiện hữu trên quê hương. Bây giờ tóc đã bạc hơn nửa mái đầu mà ngày về vẫn còn thấy xa lắc, xa lơ. Đôi lúc thấy thèm ly rượu đế ngồi bên cạnh bạn bè ngoài sân, để nghe bạn bè kể nhau nghe những mẫu chuyện đã qua của đời lính, những chiến trường đẵm máu, khốc liệt.


    Các bạn ơi! Không biết bao giờ gặp lại đầy đủ như xưa, chỉ còn lại là những kỷ niệm vui buồn trong ký ức, trong giấc mơ. Những chiến hữu đã hy sinh cho cuộc chiến, những thương binh đang sống lây lất từng giờ, từng ngày trên quê hương, chúng ta đang mắc nợ họ, nợ ân tình, nợ cho chúng ta được ra đi và hiện hữu nơi này.


    Dù ở đâu, bất cứ nơi nào, vào ngày 30 tháng 4, xin các bạn một phút im lặng để tưởng niệm những chiến sĩ, anh hùng đã hy sinh bảo vệ Miền Nam Việt Nam, bảo vệ lá cờ Việt Nam Cộng Hoà.

              

              
    Hieunguyen11

    https://hon-viet.co.uk/Hieunguyen11_Nhu ... nDonVi.htm
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Xuân Nghe Nhạc Tết

Bài viết bởi Hoàng Vân »

  •           





    Xuân
    Nghe Nhạc Tết

    ________________________
    Tưởng Năng Tiến





              

              



    Nếu thực sự có mùa xuân êm đềm, và tươi thắm tới cỡ đó mà bạn vẫn chưa hài lòng thì xin nghe thêm vài câu nhạc nữa – cũng từ bản “Hoa Xuân,” của Phạm Duy :

    Có một chàng thi sĩ miền quê
    Hái bông hoa trao người xuân thì
    Có một bầy em bé ngoài đê
    Hát câu i tờ đón xuân về …

    Tôi dám cá là ngay cả vào Thời Trung Cổ, cũng không nơi nào có một mùa xuân an bình và tươi đẹp đến như vậy. Mà Phạm Duy đâu phải là người thuộc Thời Trung Cổ. Vậy chớ thằng chả kiếm ở đâu ra một mùa xuân (vào thời đại chúng ta) mà thái hòa và an lạc dữ vậy cà?

    Thiệt nó đẹp như mơ vậy đó nha. Và sao tui nghi là ổng đã nằm mơ (thiệt) quá hà. Chớ giữa chúng ta, nhất là những kẻ sinh trưởng ở miền Nam Việt Nam, có mấy ai đã từng nhìn thấy cái đê. Bờ đê trần trụi vắng hoe cũng khỏi có luôn, nói chi đến “một bầy em bé … hát câu i tờ đón xuân về ” – vào một buổi chiều xuân nào đó, đã xa lắc xa lơ – trên bờ đê lộng gió!

    Còn chuyện “có một chàng thi sĩ miền quê, ngắt bông hoa trao người xuân thì ” (… ôi thôi) nhắc đến làm chi cho nó thêm buồn. Tìm đâu ra (nữa) một ông nội làm thơ dễ thương và hiền lành đến thế?

    Tui nói vậy bạn dám cãi lắm nha. Bạn dám sẽ đưa Nguyễn Bính ra làm bia đỡ đạn, với lý do “ổng là thi sĩ miền quê cuối cùng” của thời đại chúng ta. Tệ hơn nữa, bạn còn dám mang những bài thơ lục bát (đã được “phóng ảnh treo tường” để bán) của Nguyễn Duy ra để hù tui nữa – không chừng?

    Xin lỗi bạn chớ, cỡ Tú Xương đây mà cũng đã có lúc phải ứa lệ – rấm rứt khóc thầm (dám bằng tiếng Pháp) vì nạn đô thị hóa, đây nè :

    Sông kia giờ đã nên đồng
    Chỗ làm nhà cửa, chỗ giồng ngô khoai
    Đêm nghe tiếng ếch bên tai
    Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò …

    Sá gì Nguyễn Bính, nói chi tới cỡ Nguyễn Duy. Tóm lại, tui tin rằng Nguyễn Khuyến mới đích thực là thi sĩ miền quê cuối cùng của dân tộc Việt Nam :

    Tháng Giêng hai mươi mốt chợ Đồng
    Năm nay chợ họp có đông không
    Dở giời mưa bụi còn hơi rét
    Nếm rượu tường đền được mấy ông

    Chớ còn mấy trự làm thơ (lóc nhóc) sau này đều đã bị đô thị hóa, đã “phong sương mấy độ qua đường phố” hết trơn rồi – theo như cách nói của Sơn Nam. Và tôi ngại nhất là cái kiểu bụi đời (ướt át) của ông Thế Lữ :

    Rũ áo phong sương trên gác trọ
    Ngắm nhìn thiên hạ đón xuân sang

    Cái gác trọ này – tôi bảo đảm – nằm ở Hà Thành, vào cuối thập niên ba mươi hay đầu bốn mươi gì đó. Thêm cái kiểu cách “rũ áo phong sương” đủ khiến chúng ta hình dung ra được cả đám Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Xuân Diệu, Huy Cận … đã sống cải lương chết mẹ đi rồi. Đâu còn “thi sĩ miền quê” nào nữa, mấy cha?
    Đô thị hóa, tất nhiên, không phải chỉ xảy ra ở Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường. Không tin, cứ đọc Nguyễn Bính mà xem:

    Đôi ta lưu lạc phương Nam này
    Đã mấy mùa xuân én nhạn bay
    Xuân đến khắp trời hoa mận nở
    Riêng ta với người buồn lắm thay

    Bạn thấy chưa : lại thêm hai ông nhô con bỏ nhà “dzô” Nam, thuê gác trọ, sống giữa Sài Thành Hoa Lệ. Mà đi giang hồ chút đỉnh vậy là phải chớ. Chính quê hương của Nguyễn Bính cũng đã nhiễm bụi thị thành từ lâu rồi, còn nấn ná ở đó làm chi cho mụ người ra :

    Hoa chanh mọc ở vườn chanh
    Thầy u mình với chúng mình chân quê
    Hôm qua em đi tỉnh về
    Hoa đồng cỏ nội bay đi ít nhiều …

    Coi : nàng mới ra tỉnh về (có chút xíu hà) mà hoa đồng cỏ nội đã bay đi mất liền một mớ. Lỡ mà “ẻm” ghé chơi Hà Nội hay Hải Phòng ( chậm lắm ) ba đêm kể như rồi, còn gì là “người xuân thì” theo tiêu chuẩn “chân quê” nữa ?

    Bạn hết cãi chưa ? Dù bạn đã tắt đài, tôi biết bạn vẫn còn ấm ức vì cái giọng điệu hoài cổ cực đoan và (hơi) quá khích của tui từ khi đặt bút xuống cho tới bây giờ – phải không nào?

    Đừng có nghĩ bậy bạ như vậy, mang tội chết à nha, mấy cha! Coi : cuộc tình dấm dớ của một anh thi sĩ miền quê với một cô gái xuân thì – hay hình ảnh một bờ đê lộng gió, với bầy em bé tung tăng, hát câu i tờ, vào buổi chiều xuân có nắng vàng hanh nào đó – hoàn toàn và tuyệt đối có liên quan, dính dáng gì tới tui đâu. Cớ sao tui lại hoài cổ chớ ? Đây là chuyện riêng của … Bà Huyện Thanh Quan hay ( cùng lắm ) là của ông nội hoặc của ông già tôi thôi hà.

    Mà hoài cổ, theo tôi, là thứ tình cảm hơi khó hiểu. Làm sao chúng ta có thể yêu mến hay ngưỡng mộ một thời đại mà mình tuyệt đối không có mắc mớ gì tới nó ? Hoài vọng hay hoài cảm, có lẽ, dễ hiểu và phổ biến hơn. Mọi người, khi bắt đầu luống tuổi, hẳn đều thấy tiếc nuối ít nhiều khoảng ấu thơ hay niên thiếu của mình – dù chúng ta sinh ra và trưởng thành ở bất cứ đâu.

    Dù vậy, tôi vẫn lậy Trời cho bạn đừng xui tới cỡ là sinh ra ở miền Bắc – vào khoảng thập niên 1940, 50, hay 60 – và cứ phải sống mãi ở nơi đó cho đến bây giờ. Tuổi thơ và tuổi trẻ của bạn – tất nhiên – cũng đẹp, cũng thơ mộng vậy; tuy nhiên, tôi tin là nó sẽ đẹp hơn, mộng mơ hơn (chút đỉnh) nếu Bác và Đảng đừng xía vô cuộc đời bạn quá nhiều – như họ vẫn cứ thích làm như thế, từ nửa thế kỷ qua.

    Còn nếu bạn sinh trưởng ở miền Nam thì đỡ mệt biết chừng nào mà nói. Sẽ không ai bắt bạn phải đeo khăn quàng đỏ và đi nhặt rác để hoàn thành kế hoạch nhỏ. Bạn cũng được miễn cái vụ “thay trời làm mưa” hay “nghiêng đồng cho nước chảy ra ngoài,” và bạn được tự do đi biểu tình “đả đảo” hoặc chửi rủa bất cứ thằng cha hay con mẹ (cà chớn) nào mình không thích.

    Trong một hoàn cảnh sống tương đối dễ thở như thế (và nếu bạn lại sống trong một thành phố ở cao nguyên ) thì hình ảnh “xuân về trên bãi cỏ non” (kể như) chỉ là chuyện nhỏ thôi. Điều đáng tiếc là những ngày tháng an lành, phẳng lặng đó không kéo dài lâu.

    Đến khoảng cuối thập niên năm mươi, theo trí nhớ non nớt của tôi, trong không khí an bình của miền Nam thoang thoảng đã có mùi vị chiến tranh – qua những bản nhạc tâm lý chiến (thường được hát ở phòng trà và nghe ra hơi nhiều kịch tính ) của những ông nhạc sĩ quân đội, như bản “Phiên Gác Đêm Xuân” của Nguyễn Văn Đông chả hạn:

    Đón giao thừa một phiên gác đêm
    Chờ xuân đến súng xa vang rền
    Xác hoa tàn rơi trên báng súng
    Ngỡ rằng pháo tung bay
    Nào ngờ đâu hoa lá rơi …

    Trời đất, đơn vị bạn đụng địch, “súng xa vang rền” mà Nguyễn văn Đông vẫn đang mơ ngủ. Không hề nghe ổng ban lệnh ứng chiến hay kế hoạch cứu viện gì hết trơn hết trọi; đã vậy, sau khi tỉnh giấc, ổng bắt đầu … mơ mộng :

    Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
    Mơ rằng đây mái nhà tranh
    Và ước chiếc bánh ngày xuân
    Cùng hương khói vương niềm thuơng…



    Thiệt tình, ổng làm đảo ngược binh pháp hết trơn. Người ta thì cư an tư nguy còn ổng thì cư nguy tư an. Những sĩ quan cao cấp trong quân đôi miền Nam, như đại tá Nguyễn văn Đông, chắc có hơi nhiều ; bởi vậy, chỉ chừng mười năm sau, năm 1968 thì súng AK của Trung Cộng và Tiệp Khắc nổ thiệt và nổ khắp bốn mươi tỉnh lị và thành phố của miền Nam (kể luôn thủ đô Sài Gòn).

    Cũng từ đây, chiến tranh lan vô thành phố. Nay, “plastic” đặt nổ “lầm” chỗ này ; mai, hỏa tiễn 122 ly rơi “lộn” vô chỗ khác. Và dù vậy, xã hội miền Nam vẫn cứ vui như tết – khi Tết đến.

    Nếu so với miền Bắc – nơi mà vì “hoàn cảnh đất nước khó khăn” nên chỉ có quí vị ủy viên trung ương đảng CSVN uống rượu mừng xuân, thay cho cả nước – người dân miền Nam hoàn toàn bình đẳng trong chuyện đón xuân. Cứ nghe bản “Ly Rượu Mừng” của Phạm Đình Chương là đủ biết:

    Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
    Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
    Người thương gia lợi tức
    Người công nhân ấm no
    Thoát ly đời gian lao nghèo khó
    Á … a … a … a
    Nhấp chén đầy vơi chúc người người vui
    Á … a … a … a
    Nhấp chén đầy vơi chúc người người vui
    Á … a … a … a
    Muôn lòng xao xuyến duyên đời
    Rót thêm tràn đây chén quan san
    Chúc người binh sĩ lên đường …

    Coi : nẫy giờ mới chừng mười phút mà mỗi người đã uống đâu cỡ chục ly : ly tặng anh nông phu, ly chào anh công nhân, ly mừng ông thương gia, ly mừng người nghệ sĩ … Chưa đã, còn thêm vài “chén quan san” để “chúc người binh sĩ lên đường” nữa. Thiệt, vui còn hơn tết và cả nước (chắc chắn) đều “xỉn” thấy mẹ luôn!

    Thỉnh thoảng mới có vài chiến sĩ say mê chiến đấu (hay đãng trí) đến độ quên luôn cả nhậu, và nhất định “Xuân Này Con Không Về” :

    Con biết không về mẹ chờ em trông
    Nhưng nếu con về bạn bè thương mong
    Bao lớp trai hùng chào xuân chiến trường
    Không lẽ riêng mình êm ấm
    Mẹ ơi con xuân này không về …

    Những chàng “trai hùng chào xuân chiến trường” như thế, tiếc thay, không nhiều và cũng không mấy khi được giữ những chức vụ cao trong quân đội. Điều đáng tiếc hơn nữa là trong cuộc chiến tự vệ vừa qua, quân dân miền Nam đã áp dụng một chiến lược (rất) sai lầm. Thay vì “vui nhiệm vụ không quên xuân” thì họ đã làm ngược lại là “vui xuân nhưng không quên nhiệm vụ”. Nói cách khác “vui xuân” mới là chuyện chính, còn “nhiệm vụ” chỉ là chuyện phụ (và là chuyện nhỏ) thôi !

    Cùng lúc – ở miền Bắc Việt Nam – khi Tết đến (sau khi nghe chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, tổng bí thư, thủ trưởng ban ngành, đơn vị … chúc tết xong ) là mọi người đâm bổ đi “tranh thủ làm việc gấp hai” để “thi đua lập chiến công dâng đảng.” ( Đ … mẹ chơi vậy ai chơi cho lại, mấy cha ! )

    Cuộc chiến Bắc Nam chấm dứt ra sao, vào mùa Xuân năm 1975, mọi người đều biết (và đều tiên đoán được). Từ đó, nhân dân hai miền đều chỉ còn được nghe một bản nhạc xuân duy nhất : “Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh quang vinh, ôi đẹp biết bao, biết mấy tự hào. Sài Gòn ơi cả nước vẫy tay chào …”

    Cũng như bạn, tôi chịu không nổi cái loại nhạc (thổ tả) này nên đã vẫy tay chào “thành phố Hồ Chí Minh quang vinh” để … ra đi, và đi hơi sớm. Từ đó đến nay đã mấy chục năm qua. Biết bao nhiêu là nước sông, nước suối, nước mương, nước rãnh … đã ào ào chảy qua cầu (và qua cống) ?

    Chiều nay, chiều cuối năm, ở một góc trời xa, tôi ngồi ghi lại những ý nghĩ lan man vụn vặt để gửi bạn đọc chơi – sau khi nghe hết một CD nhạc trong quán vắng, bắt đầu từ bản Hoa Xuân của Phạm Duy, đến bản cuối cùng (“Xuân Này Con Không Về”) của Trịnh Lâm Ngân.

    Nhạc xuân gì mà nghe buồn quá má ơi!




    Tưởng Năng Tiến (1990)
    https://www.danchimviet.info/s-t-t-d-tu ... 025/33442/
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Mùa Xuân của người điên!

Bài viết bởi Hoàng Vân »

  •           




    Mùa Xuân
    của người điên!

    _________________________________
    Phạm Phong Dinh






    Sài Gòn những ngày cuối đông ủ ê như một người bệnh nằm trăn trở trên giường. Những tòa cao ốc xám xịt và rêu mốc oằn thân phiền buồn nhìn xuống những con đường đầy những chiếc xe đạp cũ kỹ bên dưới những chiếc lưng còng. Những chú heo từ trên những chiếc lan can lầu thò mõm ra khỏi những lỗ gạch tường nhìn khoảng bầu trời âm u, ngao ngán bỏ lửng chiếc máng còn một nửa thức ăn, điều gọi là thức ăn của những lát thân chuối xắt mỏng chát ngắt trộn với vụn cám đắng nghét. Thức ăn bạc bẽo như thế nên những cô chú heo rầu rĩ và ốm o.


    Chỉ mới có mấy năm đón nhận hòa bình mà những tòa nhà cao ốc đẹp đẽ của ngày nào đã trở thành dột nát, loang lổ và xấu xí đến mủi lòng. Thầy thợ, công nhân, giáo chức, cán bộ, viên chức nhồi nhét nhau, chen chúc ngụ cư trong những tòa cao ốc này. Cha chung không ai chăm sóc, nên cầu tiêu cầu tiểu nghẹt cứng hôi thối. Tường vôi ẩm thấp vì nước thải và phân heo chảy tràn lan đóng rêu xanh biếc. Những cánh cửa kêu than kẽo kẹt vì bản lề rỉ sét. Hàng đống rác bốc mùi thối rữa nằm dồn đống trên lề đường mỏi mòn chờ những người phu dọn rác è ạch kéo những chiếc xe cút kít đến.


    Thành phố Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông giờ đây, trong một ngày cuối đông sắp sửa sang xuân ngơ ngác, cằn cỗi như một mệnh phụ nhan sắc đã phai tàn. Ngoài chợ Bến Thành hàng quán bán hàng xuân trong một khung cảnh nhộn nhịp nhưng gượng gạo và giả tạo. Lấy cái gì, có cái gì mà mua sắm để đón xuân sau những cú đổi tiền tàn bạo. Người dân sạch trắng túi, mỗi người chỉ còn vài tờ giấy lộn trong túi, mà chỉ sau vài tuần chúng đã nhàu nát thảm hại. Hình lão già cười toe toét trên những tờ giấy súc ấy trong cơn nhăn nhúm đã trở nên méo móm kỳ quặc.


    Thạnh ngồi bên chân một cây cột đèn đường giở lon guigoz cơm ra ăn. Bữa cơm trưa thật đạm bạc. Có gì đâu, chỉ là một nhúm cơm ăn với xả trộn với mắm ruốc. Nhưng Thạnh hài lòng với thực đơn của chàng. Mua một miếng mỡ bầy nhầy loại rẻ tiền nhất, cho vào cái chảo gang cũ đã bể mất hết một cái quay hun lửa cho nó phọt nước mỡ ra, rồi đổ hổ lốn xả bằm với mắm ruốc vào. Vậy là Thạnh đã có được một tuần hay hơn thức ăn mặn để đưa những hạt cơm xam xám đầy những hạt bông cỏ vào chiếc bao tử lép kẹp của chàng. Người dân thành phố còng lưng đua nhau lượm những hạt sạn và hạt cỏ hằng hà sa số nằm chen lẫn với những hạt gạo vàng ngoách và đục ngầu. Sau một ngày làm việc mệt mỏi, Thạnh chỉ muốn chui vào tấm mền nhà binh rách ngủ vùi, nên chàng chẳng buồn lượm sạn đá và hột cỏ, mà chúng có thể làm cho chiếc bao tử bị lủng và sưng phồng. Nhưng Thạnh cóc cần. Chàng chẳng phải đã là một con người chết rồi hay sao, chỉ là một cái xác chết tạm thời còn thở và đi đứng vậy thôi.

    Vừa vá chiếc ruột xe đạp của khách hàng xong, mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, chiếc dạ dày của Thạnh nhốn nháo đòi hỏi, nên Thạnh giở cơm ra ăn. Thạnh ngồi trên cái hộp gỗ đựng đồ nghề, duỗi cái đầu gối cụt được tháp vào bằng một cái chân gỗ, thoải mái tựa lưng vào cột đèn đường vừa ăn vừa ngước trông những chú heo trên tòa cao ốc bên kia đường. Thạnh nhìn cái bánh xe đạp, trời ơi cái ta-lông của nó chắc người chủ nghèo rớt mồng tơi, đã chằng không biết bao nhiêu là sợi nylon. Cái ta-lông của chiếc bánh xe làm Thạnh liên tưởng đến cuộc đời tan nát của chàng, mà ngày xưa ở lính người ta gọi là banh ta-lông mỗi khi đơn vị bị tổn thất tả tơi.


    Nghề ngỗng hạ bạc, hôm đắt hôm ế, nhưng Thạnh vẫn thấy chàng còn may mắn lắm, bởi vẫn có thể kiếm được vài đồng tiền hình lão già râu để sống còn. Chàng có một mái nhà, không, một cái chòi lụp xụp bên con kinh nước đen mà khi ở tù về chàng đã theo các bạn tù thuộc dạng con bà phước đến lấn chiếm dựng lên. Bọn chàng thường cụng ly cười buồn với nhau, nhớ tiếc những ngày thương phế binh xuống đường cắm dùi giành đất.


    Bỗng nhiên Thạnh có một cái cảm giác, rằng có một ai đang nhìn trộm chàng. Thạnh giật mình quay sang, thì chàng trông thấy một người đàn bà rách rưới đang ngồi xổm bên cạnh từ bao giờ. Thạnh đặt chiếc lon guigoz xuống lạ lùng hỏi:
    - Chị cần gì, chị muốn sửa xe phải không?

    Người đàn bà không trả lời, đôi mắt đục ngầu không ánh lên một vẻ cảm xúc nào, nàng nhìn chằm chằm vào chiếc lon cơm của chàng, miệng lẩm bẩm:

    - Cơm, cơm, con tôi... con... con...


    Thạnh quan sát kỹ hơn người đối diện, con tim chùng xuống trong một nỗi buồn. Trời ơi, chàng đã rách rưới lắm rồi mà nàng còn tả tơi gấp nhiều lần hơn. Chiếc áo bà ba đã sờn rách nhiều chỗ để hở cả da thịt, chiếc quần không biết phải gọi là màu gì, vì nó đã biến thành màu nâu đỏ, cái ống quần bị xẻ rách để thò ra một mảnh da trắng ngà. Thạnh ái ngại nhìn khuôn mặt lem luốc của người đàn bà dưới một mái tóc rối bời, cứng ngắt như những cọng rễ tre. Điều mà Thạnh còn có thể nhận ra với chút ngạc nhiên, sau chiếc mặt nạ xấu xí ấy vẫn còn vướng vất vài đường nét kiêu sa của một cô gái đẹp. Người đàn bà chợt thò tay chộp lấy chiếc lon cơm của Thạnh, nhưng đã nhanh hơn, Thạnh chặn lấy bàn tay của nàng:

    - Chị làm gì vậy?



    Người đàn bà thều thào:

    - Cơm... cơm... con... con...


    Thạnh buông tay người thiếu phụ ra thở dài ngao ngán, trong lòng rên lên. Một người đàn bà đã mất trí. Chàng đã nghèo kiết xác đến tận cùng, mà người đàn bà này vừa điên khùng vừa đói khổ hơn nhiều. Thạnh bần thần không biết phải phản ứng như thế nào, bởi chàng mới vừa ăn được một ít, cái thân thể trong độ tuổi tráng niên của chàng hãy còn cái cảm giác thèm thuồng cơm lắm, chàng khó thể nhịn đói đến chiều được. Nhưng nhìn người đàn bà thảm hại thế kia, Thạnh thấy không đành, có lẽ chàng phải uống nước lã trừ cơm vậy. Chị Hai bán thuốc lá ngồi cách chàng chừng năm, bảy thước nói với sang:

    - Anh ơi, bà điên đó, đừng để ý làm gì!



    Thạnh hỏi lại:

    - Chị biết bà này không?

    - Ừ biết, tui là người hàng xóm của bà ấy. Anh không biết đâu, ngày xưa bà ta là bà Thiếu Tá đi xe Jeep không hà. Chặc, giờ đây nghe nói chồng đi tù ngoài Bắc đã chết mất xác, bà Thiếu Tá nghèo đói thảm hại như vậy.


    Thạnh giật mình động lòng. Thì ra là người vợ lính. Không cần biết ông ta là thiếu tá hay binh nhì, trước mặt chàng đơn thuần là người vợ của một chiến hữu trong cơn thất thế. Thạnh trao chiếc lon guigoz vào tay bà Thiếu Tá:

    - Chị lấy đi, nhưng buổi chiều chị trở lại trả cho tôi cái lon nghe.



    Ánh mắt người thiếu phụ sáng lên một nỗi vui mừng, nàng ôm chặt cái hộp nhôm trong lòng như một báu vật. Thạnh ngậm ngùi hỏi:

    - Chị ăn gì chưa?



    Im lặng. Người điên làm sao hiểu được, nghe được âm thanh của thế giới người tỉnh. Thạnh bảo:

    - Chị ngồi đây chờ tôi, tôi mua bánh mì cho chị ăn.



    Người điên chỉ nghe được hai tiếng bánh mì và ăn, nên nàng nhìn Thạnh có vẻ như hiểu chút. Thạnh khập khểnh đến cái xe bánh mì ở gần đấy mua một ổ bánh mì chan nước sốt thịt, điều mà cái túi tiền còm chàng có thể cáng đáng. Thạnh trở lại trao ổ bánh mì cho bà Thiếu Tá:

    - Chị ăn đi.



    Không khách sáo gì, người đàn bà chộp lấy ổ bánh mình đưa lên miệng nhai ngấu nghiến, hẳn nàng đã nhịn đói nhiều ngày lắm rồi. Thật tội nghiệp, người điên làm sao có thể sinh tồn trong cái xã hội mà tất cả mọi con người bình thường đều bị đày đọa đến tận cùng này. Đột nhiên, người đàn bà ngừng nhai, nàng cột sợi giây thun vòng quanh tờ giấy bọc bánh mì lập lại điệp khúc cũ:
    - Bánh mì... con... con...



    Thạnh hiểu ngay rằng người mẹ này muốn dành hết phần ăn cho những đứa con ở nhà. Ôi, cao cả làm sao tình mẫu tử thiêng liêng. Đã là người mất trí, mà trong tận đáy tiềm thức của nàng, thiên chức làm mẹ vẫn bừng sống mãnh liệt. Thạnh hỏi chị bán thuốc lá:

    - Chị ơi, gia đình bà này bây giờ ra sao rồi?

    - Còn sao với trăng gì nữa. Chồng đi tù chết, bà hóa điên, hai đứa con bệnh hoạn vì đói. Hàng xóm tụi tui cũng có giúp đỡ ít nhiều nhưng chính chúng tôi còn không biết ngày mai ra sao nữa, bữa đói bữa no.


    Người đàn bà chợt đứng lên, nàng ôm chiếc hộp và khúc bánh mì bỏ chạy. Thạnh chống tay trỗi dậy muốn đuổi theo, nhưng chàng phải dừng, vì ngại khi chàng vắng mặt thì cái thùng đồ nghề, cái cần câu cơm của chàng sẽ mọc cánh bay mất. Thôi đành gắng chờ bà ta trở lại vậy. Chàng có linh tính rằng nàng sẽ trở lại. Nhưng Thạnh đã lầm. Thành phố đã lên đèn, bà bán thuốc lá đang dọn thùng chuẩn bị về mà bà Thiếu Tá vẫn biệt tăm. Thạnh hỏi chị:

    - Chị Hai ơi, chị có thể cho tôi biết chỗ ở của bà Thiếu Tá không?

    - Ừ, anh biết cái xóm nhỏ trong con đường hẻm dẫn xuống con rạch nước đen có đám rau muống không? Anh đến đó hỏi bà Thiếu Tá, chặc, hay hỏi bọn con nít nhà bà điên, thì ai cũng biết.

    - Bà Thiếu Tá mà ở nơi tăm tối vậy sao?

    - Cái anh này ngớ ngẩn, nhà cửa bị tịch thu, bà ta đem con chạy vào xóm tụi tôi cất chòi ở, còn có cái mái che mưa nắng là may lắm rồi.

    - Nhưng tại sao bà ta điên, thiếu gì bà tá tướng có chồng đi tù và chết?



    Chị Hai nhìn Thạnh bằng ánh mắt hờn trách:

    - Anh ơi, mỗi người trong bốn triệu dân Sài Gòn này đều có một câu chuyện bi thảm riêng, chuyện nào cũng có thể khiến cho người ta hóa điên hay tự tử chết được.
    - Nhưng ít ra câu chuyện của bà Thiếu Tá phải bi thương đến độ bà phải dở điên dở khùng như thế chứ?



    Người đàn ba bán thuốc lá cắn môi, đôi mắt rơm rớm nước mắt:

    - Là đàn ông, anh không thấu hiểu nỗi đau đớn của đàn bà chúng tôi đâu. Đói khổ chúng tôi còn chịu được chứ... chứ... Mà thôi anh cứ hỏi bà ta thì hiểu.


    Cái tính tò mò thiên bẩm của loài người thúc giục Thạnh hỏi dồn:

    - Thì chị cứ nói đi, tôi hiểu rồi thì biết đâu tôi chẳng hăng hái cùng hàng xóm của chị giúp đỡ cho bà ta.



    Chị Hai bĩu môi:

    - Nhìn anh rách rưới thảm hại thế kia mà đòi giúp đỡ ai.

    - Ông bà mình dạy lá rách rùm lá nát mà chị.



    Chị Hai thở dài sầu não:

    - Chẳng lẽ tôi phải nói trắng ra với anh là người đàn bà đáng thương ấy đã bị bọn chó đẻ muốn làm nhục trong lúc chồng đi tù. Không thỏa mãn thì chúng đuổi bà ta đi, ăn cướp nhà người ta. Nhục nhã, chồng chết, con bệnh đói, anh không hóa điên thì anh hóa thành cái gì?


    Thạnh rụng rời vịn tay vào cây cột đèn, chàng lảo đảo muốn ngã, đầu óc dao động, trước mắt chàng hàng vạn đốm sáng đủ màu sắc nhảy múa trong một điệu luân vũ điên cuồng như muốn trêu cợt chàng. Dẫu biết rằng chúng nó là một lũ quỷ không tim có thể làm bất cứ chuyện ác độc nào, nhưng mỗi lần nghe kể một câu chuyện thương tâm, chàng không thể không đau lòng. Ôi ở thành phố Sài Gòn này, mỗi một người dân đều mang mển trong lòng một câu chuyện bi thảm riêng. Nếu người ta có thể hứng được nước mắt của mỗi con người ấy thì có lẽ nó đủ góp nên thành một đại dương mặn đắng.


    Theo lời chỉ dẫn của chị Hai bán thuốc lá, Thạnh dễ dàng tìm được cái chòi lá của bà Thiếu Tá. Cái chòi của chàng bên bờ con kinh nước đen đã tồi tàn lắm rồi, mà cái chòi của bà càng thảm hại hơn, không biết phải gọi là cái gì. Khi Thạnh đến thì con hẻm đã chìm trong một vùng ánh sáng mờ nhạt từ chiếc bóng đèn trên cao. Đã là mùa đông chớm sang xuân rồi, đâu có còn là mùa mưa nữa, mà con hẻm thật lầy lội, Thạnh bước lõm bõm trong bùn sình đặc quánh. Khi chàng gõ vào cánh cửa gỗ tạp khép lỏng lẻo trên một cái khung méo mó, thì chẳng có ai trả lời hết. Đứng đợi mãi sốt ruột, Thạnh buộc phải đẩy nhẹ cánh cửa thò đầu nhìn vào:

    - Xin lỗi, có ai trong nhà không?


    Bên trong tối đen như mực, nhưng có tiếng rên rỉ đáp lời chàng. Thạnh mở toang cánh cửa tìm chút ánh sáng, chợt chàng buột miệng kêu lên:

    - Ồ, trời ơi!



    Thạnh đã trông thấy gì? Người đàn bà đang nằm còng queo trên một chiếc giường ọp ẹp ôm trong lòng hai đứa con nhỏ, mà tiếng rên rỉ xuất phát từ đấy. Thạnh bước đến ngồi xuống nhìn cho rõ. Giữa vùng ánh sáng xám mờ, chàng trông thấy hai đốm sáng mệt mỏi từ một đứa bé gái, nó rên ư ử. Thạnh hỏi:

    - Chị ơi, chị cho tôi hỏi?



    Người đàn bà nằm bất động, Thạnh không rõ nàng ra sao rồi, nhưng đứa bé gái thều thào trả lời:

    - Chú ơi, con khát... con nóng...



    Thạnh ngồi phệt xuống đưa tay lên sờ trán con bé, chàng hoảng hốt kêu:

    - Trời, nóng thế này, cháu làm sao vậy?



    Con bé khóc:

    - Con không biết, con mệt, con... con... đói, con khát.



    Thạnh đành phải lay người đàn bà dậy:

    - Chị ơi, chị dậy đi, con của chị...



    Người đàn bà mở mắt ngơ ngác nhìn, trông thấy một cái bóng đen lù lù nàng kêu rú kinh hãi, ôm hai đứa bé rúc vào góc nhà. Thạnh trấn an người thiếu phụ:

    - Đừng sợ, tôi đây mà, tôi là người vá xe đạp hồi chiều…



    Đứa bé gái chợt ngã ra nằm dài trên sàn đất ngất xỉu. Thạnh bò đến kéo nó dậy ôm vào lòng:

    - Cháu... tỉnh dậy đi!



    Con bé mở mắt nhìn, Thạnh rùng mình nhìn thấy sự chết trong ánh mắt của nó.

    - Cháu mệt lắm rồi, cháu thở không được...

    Thạnh vỗ về con bé:

    - Đừng lo, chú đưa con đi nhà thương.

    Thạnh quay sang nói với người mẹ:

    - Tôi đưa cháu nó đi bệnh viện, chị ở nhà chờ tôi đừng đi đâu nghe.

    Thạnh đưa tay muốn sờ trán thằng bé trai trong lòng bà Thiếu Tá, nhưng bà ta đã co rúm người ôm chặt nó hơn. Thạnh đoán rằng nàng sợ chàng bắt nó đi. Thạnh nhẹ nhàng đặt mấy khúc bánh mì và chai nước xuống:

    - Chị cho cháu ăn và chị cũng ăn cho lại sức.


    Thạnh kêu xích lô đưa con bé đến phòng mạch chui của một người bạn trước kia là một sĩ quan trợ y trong quân đội. Trên đường đi thì Thạnh được biết con bé có cái tên rất đẹp là Trần Nguyễn Thùy Trang, mẹ nó là Nguyễn Thùy Trinh, còn chú bé út là Trần Nguyễn Quốc Trân. Người chủ gia đình là ông Trần Quốc Kiến. Ông Thiếu Tá thật khéo đặt tên cho con. Thạnh ngại không muốn đưa bé Trang vào bệnh viện, bởi ai người ta tiếp nhận những con người cùng khổ không có sổ hộ khẩu như chàng và Thùy Trang. Ông bạn vàng của Thạnh thật là một con người có tấm lòng, anh đưa cho Thạnh mấy viên Ampicyline:

    - Con nhỏ này nó bị cảm lạnh, phổi có thể sưng, tôi cho nó mấy viên trụ sinh uống tạm, anh lấy cái toa này mua thêm thuốc cho nó.



    Người trợ y thở dài sườn sượt:

    - Tôi chỉ còn có ngần ấy, tôi đã cho ra quá nhiều đến nỗi bây giờ tôi không còn gì. Tương lai đen như cái mõm chó mực, chắc tụi mình đi móc bọc sớm!

    Thạnh ấn vào tay bạn mấy đồng tiền, nhưng anh ta đã giãy nãy đẩy ra:

    - Thôi ông ơi, ông rách nát tả tơi quá rồi, dẫu sao tôi làm chui cũng còn khá hơn ông nhiều. Ông giữ lấy mà mua thuốc cho nó.


    Thuốc men đắt kinh khủng, và hiếm nữa, không loại trừ mua lầm thuốc giả. Nhưng Thạnh không còn sự chọn lựa nào khác, chàng đành dốc túi đến chỗ bán thuốc mà bạn chàng giới thiệu. Số tiền còm cõi của Thạnh mua chẳng được mấy viên thuốc, nhưng thượng đế lòng lành thương người hoạn nạn, hay có lẽ con bé đang trong độ tuổi trẻ còn chống cự được với bệnh tật nên nó đã vượt qua được cơn hiểm nghèo. Sau chuyện này, số tiền để dành ít ỏi của Thạnh cạn sạch, nhưng chàng thấy có bổn phận vẫn phải giúp đỡ cái gia đình của người chiến hữu không chân dung này. Nhờ sự giới thiệu của chị Hai, Thạnh nhận được một mối bán vé số cho con bé Thùy Trang. Thùy Trang đòi đi bán khắp thành phố, nhưng Thạnh đã bảo:

    - Không, con cứ ngồi bên chú không đi đâu hết, bán được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
    - Nhưng như vậy thì ế chết, lấy gì trả tiền cho người ta.

    - Kệ nó, vé số ế biết đâu con sẽ trúng được... độc đắc không chừng.



    Con bé miễn cưỡng ngồi bên Thạnh trên một cái ghế nhỏ, trước mặt là một kệ gỗ bày bán mấy tập vé số ít ỏi đến não lòng. Công cuộc bán vé số không mấy khá, con bé cứ đòi đi bán dạo, Thạnh đành miễn cưỡng ưng thuận:

    - Được, nhưng con chỉ được đi từ đầu đường này đến đầu đường dưới kia rồi trở lại và không bao giờ biến mất trước mắt chú.


    Con bé kéo thêm thằng Quốc Trân ra ngồi gần bên Thạnh, còn nó bắt đầu cuộc bán dạo. Công cuộc làm ăn xem chừng khấm khá hơn. Những khi trở về ngồi nghỉ, con bé tẩn mẩn nhặt mấy cái ruột xe lên xem rồi trề môi phê bình:
    - Nói xin lỗi chú, chứ chú đánh giấy nhám không được tròn trịa, để con làm cho chú coi nè.


    Con nhỏ khéo tay thật. Hai bàn tay nó vờn cái ruột xe cũ thoăn thoắt như một nhạc sĩ lướt trên phím đàn. Chẳng mấy chốc mà một cái vệt tròn trịa nham nhám đã sẵn sàng để Thạnh trét keo lên. Thạnh phục con nhỏ sát đất:

    - Thùy Trang siêu thật, chú phải làm đệ tử của con thì đúng hơn.


    Con bé mỉm cười hiền hậu:

    - Từ nay khi có dịp con sẽ giúp chú vá xe.

    - Ừ, mai sau này chú chắc là con nếu không làm kỹ sư thì cũng là bác sĩ giải phẫu tài ba.



    Con bé cúi đầu cười buồn:

    - Có ai người ta cho tụi con đi học đâu mà mơ chú ơi!


    Thỉnh thoảng bà Thùy Trinh đến ngồi xổm bên chân cột đèn nhìn chú cháu Thạnh làm ăn. Thạnh không biết được liệu trong cái thế giới mờ mịt của những người mất trí, nàng có cảm nhận được những gì đang xảy ra trước mắt không. Thạnh nghĩ là có, bởi ánh mắt của bà luôn dành sự trìu mến cho những đứa con bé bỏng của bà. Thạnh ra chợ cũ mua mấy bộ quần áo rẻ tiền nhưng còn khá lành lặn đưa cho Thùy Trang:

    - Mấy cháu mặc thay đổi, còn cái này tối về con thay cho mẹ.



    Thùy Trang rưng rưng nước mắt:

    - Chú là người dưng mà sao chú tốt với mẹ và tụi cháu quá vậy?

    - Với mẹ và mấy con hay với ai thì chú cũng có bổn phận phải làm như vậy thôi.

    Thạnh chạnh lòng nhìn sang bà Thùy Trinh. Chàng bảo con bé hàng ngày lau rửa thân thể và chải gỡ cho mẹ, nên giờ đây trước mắt Thạnh không còn là một người đàn bà dơ dáy lem luốc của mấy ngày trước, mà là một người thiếu phụ xinh đẹp hiền lành ngồi lặng thinh, co ro trong mảnh áo mỏng dưới những cơn gió bấc của mùa đông thổi về. Thạnh băn khoăn không biết cuộc sống vô nghĩa của gia đình ông Thiếu Tá Kiến và chính bản thân chàng sẽ kéo dài được bao lâu. Chàng còn lê lết tấm thân tàn tật này trên lề đường đến bao giờ… Thạnh không nhìn thấy được tương lai, bởi ngay cả hiện tại mà chàng cũng đã thấy nó đen tối như cái đêm ba mươi mà chàng sắp sửa đón nhận hôm nay. Thoắt cái đã là ngày Ba Mươi Tết rồi.


    Con bé Thùy Trang bán xong một xấp vé số, nó quày trở lại vui vẻ nói với ông chú hờ:

    - Tối nay mẹ và tụi con mời chú đến mừng giao thừa với gia đình.


    Thạnh cười phì:

    - Những người nghèo rách mồng tơi như chú cháu mình mà vẫn đón giao thừa sao?
    - Phải đón chứ, nghèo đón theo nghèo.

    - Ừ, chú sẽ đến, nhưng mà mẹ với mấy con định đãi chú món những gì đó?
    Đôi mắt trong trẻo của Thùy Trang ánh lên vẻ bí mật:

    - Chú đến thì sẽ rõ.

    Thạnh cốc nhẹ lên đầu con bé:

    - Ừ được, nhưng đừng bày vẽ tốn kém.


    Chàng nói hơi thừa, bởi gia đình bà Thùy Trinh cái chòi lá trống trước trống sau, lấy gì mà bày vẽ. Con bé nhổm dậy định đi tiếp, thì chị Hai bán thuốc lá bỗng chạy sang mặt mũi tái xanh, chỉ có mấy bước mà chị thở hổn hển nói không ra lời:

    - Anh Thạnh, Trang, Trân, ba mấy con đã... đã... về kìa...


    Thạnh sửng sốt không tin những gì chị Hai vừa nói, chàng nhìn về hướng cái thùng thuốc lá của chị thì thấy một người đàn ông mặc một bộ y phục kaki cũ bạc màu, trên vai quảy một cái túi vải nhỏ chắp vá bằng những mảnh vụn ba lô cũ. Đúng là cung cách của một anh tù giống như bọn chàng mấy năm trước không lầm vào đâu được. Thạnh bàng hoàng đứng lên nhìn cho rõ hơn khuôn mặt khắc khổ của người tù, dù đã tàn tạ mà khuôn mặt chữ điền của ông vẫn còn vướng vất rất nhiều nét kiên nghị của một người lính. Người đàn ông nửa như chạy, nửa như ngập ngừng bước tới hỏi:

    - Xin lỗi, anh là anh Thạnh, Trung Úy Thạnh?



    Thạnh ngẩn ngơ cứ mãi nhìn người khách, trong ý nghĩ quay cuồng bao câu hỏi, chàng không nghe thấy ông nói gì. Ông khách ngồi xuống, gần như là quỳ trước mặt hai đứa bé, khóe mắt ông tràn đầy nước, ông run run nắm tay chúng giọng nghẹn đặc:

    - Có phải mấy con là Thùy Trang và Quốc Trân, ba... ba... là ba... của các con...


    Cuộc tương phùng trên hè phố trong ngày giao thừa, sự xúc động đã làm cho ông khách gục đầu xuống khóc òa, ông không nói thêm được gì nữa. Hai đứa bé ngơ ngác nhìn Thạnh cầu cứu. Thạnh ngồi xuống bên ông khách hỏi:

    - Ông là... Thiếu Tá Kiến, Trần Quốc Kiến?



    Người đàn ông ngước lên, đôi má sạm đen của ông đầm đìa nước mắt:

    - Phải tôi là Kiến, còn Trung Úy...



    Thạnh nắm tay ông Kiến vui mừng nói:

    - Giờ này mà còn Trung Úy gì nữa ông thầy. Trời ơi, ông còn sống mà người ta nói ông chết rồi.



    Kiến cười buồn:

    - Đúng là tôi đã chết, bạn bè khiêng ra ngoài rừng chôn, nhưng thượng đế lại cho tôi sống, bạn bè lại khiêng vào. Có lẽ lời đồn đại tam sao thất bản về thành phố, người ta tưởng tôi đã chết.

    Thạnh quay sang hai đứa nhỏ:

    - Vui quá mấy con ơi, đây là ba con đã trở về. Thùy Trang có nhận ra ba con không?

    Thùy Trang lạ lùng nhìn người đàn ông, trong cái ký ức bé thơ của nó những hình ảnh cũ ngày xưa lũ lượt hiện về. Ông Kiến đi tù lúc hai chị em Thùy Trang chỉ có mấy tuổi, mười năm sau ông trở về, những gì còn đọng lại trong tiềm thức của Thùy Trang dường như đã phai nhạt hết. Nhưng cái tình cha con thiêng liêng dường như có một mãnh lực siêu hình khiến cho Thùy Trang nhận ra ngay người cha đã chết của nó. Thùy Trang ngã vào lòng ông Kiến khóc lớn:

    - Ba... ba...


    Ông Kiến ôm hai đứa nhỏ vào lòng, cái thân hình gầy mòn nhưng mà cao to của ông ấp ủ hai con chim nhỏ dưới đôi cánh của một con đại bàng lớn bằng một tình yêu thương dạt dào. Chị Hai bỗng ú ớ kêu:

    - Ông Thiếu Tá ơi, bà nhà ông đã đến kìa.


    Kiến giật mình nhìn lên. Đây mới chính là điều mà ông trông chờ nhất. Ba cha con đứng nhìn người đàn bà từ xa đi đến, rồi nàng ngồi xổm xuống bên chân cái cột đèn quen thuộc. Ông Kiến nấc nghẹn gọi, giọng khàn đặc đứt quãng:
    - Mình... mình... anh đã về...


    Đôi mắt vô hồn của bà Thùy Trinh đăm đăm nhìn về một cõi vô hình nào mà chỉ nàng biết rõ. Bà không nhìn thấy ông Kiến, hay bất cứ người xa lạ nào khác. Nhưng tình mẫu tử kỳ lạ đã luôn khiến bà nhìn thấy mối nguy của những đứa con, Thùy Trinh nhảy đến giằng lấy hai đứa nhỏ từ trong tay ông Kiến:

    - Con tôi... con tôi...



    Ông Kiến nắm lấy bàn tay gầy guộc nổi đầy gân xanh của vợ khóc nức nở:
    - Em... mình... mình... ra đến nông nỗi này sao, anh là Kiến của em đây!



    Thùy Trinh ôm hai đứa bé vào lòng lùi dần, nàng sợ hãi muốn bỏ chạy, miệng lắp bắp:

    - Con tôi... con tôi...



    Thùy Trang lắc mạnh tay mẹ khóc lóc:

    - Mẹ ơi... ba đã về...


    Nhưng Thùy Trinh vẫn ngơ ngác như một cái cây vô tri, nàng buông hai đứa con ra rồi lại ngồi phệt xuống. Chứng kiến tấn bi kịch tương phùng, chị Hai cũng khóc. Vừa thấm nước mắt chị kể cho ông Kiến nghe chuyện gia đình ông, rằng vợ ông nổi điên là vì không muốn thân thể bị hoen ố, và vì bị đuổi ra khỏi nhà, nhưng trên hết là bởi nghe tin ông đã chết. Mặc cho người qua lại trên hè phố đứng nhìn, ông Kiến khụyu người xuống bên vợ khóc nấc từng lúc:

    - Mình ơi, trời ơi... tội nghiệp mình biết dường nào.



    Thạnh bước đến tìm lời an ủi:

    - Ông thầy nên đưa bà về nhà trước rồi tính sau.



    Khi mọi người đã ngồi trên chiếc giường ọp ẹp trong cái chòi lá tồi tàn, ông Kiến phục xuống lạy Thạnh:

    - Anh Thạnh, Trung Úy Thạnh... xin anh nhận tôi mấy lạy này...



    Thạnh kinh hoảng nhào xuống đỡ ông Kiến dậy:

    - Thiếu Tá làm gì vậy?



    Kiến ngã vào lòng Thạnh khóc lớn:

    - Trung Úy Thạnh, suốt đời gia đình chúng tôi đội ơn Trung Úy.



    Không dằn được cơn não lòng, Thạnh cũng khóc, hai người đàn ông ôm nhau nức nở như hai đứa trẻ bị mẹ đánh đòn oan.



    - Ông thầy đừng nói vậy, mình là chiến hữu với nhau, tôi có bổn phận...


    Độc giả không thích một cái kết cuộc quá bi thương vẫn có thể tin rằng Thượng Đế đã đang nhìn thấy hết những nỗi khổ đau của người trần gian và ngài sẽ cứu.


    oOo


    Năm năm sau. Cũng trong một ngày cuối đông sắp sang xuân, Thạnh cùng vợ và mấy người bạn trong cái xóm nhỏ bên bờ con kinh nước đen đang ngồi quanh bàn tiệc đón giao thừa, thì có một người khách lạ ăn vận tươm tất bước vào:
    - Xin lỗi, đây có phải là nhà của ông Lê Văn Thạnh?



    Thạnh đứng lên:

    - Tôi là Thạnh đây, xin lỗi ông có gì cần?

    Ông khách vui vẻ xoa tay:

    - Tốt quá, xin mời ông ra ngoài nhận quà Tết.


    Thạnh nhìn sang vợ ngơ ngác, trong lòng dậy lên một dấu hỏi to tướng. Thạnh có quen biết ai đâu mà nhận quà, hay là người ta lầm.



    - Ông có chắc là tôi không?



    Ông khách cười tươi:

    - Ông là Trung Úy Lê Văn Thạnh, Tiểu Đoàn Địa Phương Quân ở Kontum? Nếu đúng thì xin ông ra nhận quà.


    Thạnh nắm tay vợ cùng bước ra ngoài, ông khách bước theo chỉ vào… Trời ơi! Thạnh có nhìn lầm không? Một chiếc xe gắn máy bóng loáng, mới toanh.
    - Đây là quà của gia đình ông Trần Quốc Kiến ở Hoa Kỳ gởi về, họ ân cần dặn dò tôi phải tìm đúng nhà ông Trung Úy Lê Văn Thạnh.


    Ông khách vẫy một người đàn ông đang ngồi chờ trên một chiếc gắn máy khác ôm một gói to tướng đến:

    - Còn đây là quà đón Tết của công ty bán xe Đại Phát chúng tôi. Hà hà, kính chúc gia đình Trung Úy sang năm mới tấn tài, tấn phát, vạn sự may mắn và an lành.


    Vợ Thạnh gục vào vai chàng khóc thút thít:

    - Anh ơi... em không thể tưởng tượng được.


    Thạnh hiểu ngay rằng gia đình ông Kiến gởi về cho chàng một cái cần câu cơm. Từ nay gia đình nhỏ bé của chàng sẽ sống nhờ vào chiếc xe này. Mấy người bạn vây quanh nói lời chia mừng, Thạnh mở bức thư của ông Kiến ra. Một xấp tiền dầy cộm hiện ra trước mắt. Mắt nhòa lệ, những giòng chữ rắn rỏi của ông Kiến nhảy múa trên bàn tay run rẩy của Thạnh.


    “Anh Thạnh rất thân mến của gia đình chúng tôi,

    Đầu thư kính thăm anh chị luôn được mạnh khỏe và nhiều điều an lành. Đây là món quà nhỏ không phải của tôi hay của Thùy Trinh mà là của Thùy Trang với Quốc Trân gởi về cho chú thím của chúng nó. Các cháu vẫn luôn nhắc nhở những ngày ngồi bán vé số và cùng vá xe với chú Thạnh, mà chúng nó cho là những ngày đẹp đẽ nhất trong đời. Cháu Thùy Trang và cháu Quốc Trân nhắn lời là thế nào các cháu cũng về thăm chú thím Thạnh. Còn số tiền nhỏ mọn này, gia đình chúng tôi nhờ anh phân chia lại cho anh em chiến hữu trong xóm, gọi là chút quà mừng Xuân. Kèm theo đây là mấy hàng của vợ tôi gởi cho anh”.


    Con tim như muốn vỡ ra trăm mảnh vì quá cảm xúc, Thạnh trao bức thư cho vợ đọc tiếp.


    “Kính ân nhân,

    Nhờ sự giúp đỡ của ân nhân mà tôi đã được trở về với thế giới của những người bình thường. Nhưng xin phép được gọi ân nhân là anh Thạnh. Anh Thạnh! Con bé Thùy Trang mà anh cứu sống đang rất bận rộn trong năm đầu tiên ở Trường Y, cháu sẽ theo đuổi ngành giải phẫu chuyên khoa. Thùy Trang nói vì đó là ước vọng, là lời anh nói với bé ngày xưa. Điều mà tôi luôn ghi khắc trong lòng cho đến trọn đời là xin anh cho gia đình chúng tôi được giữ mãi chiếc lon guigoz ân tình như là một báu vật của gia đình. Xin được kính lời thăm chị, kính chúc anh chị một năm mới vạn sự như ý và tốt lành. Thùy Trinh và gia đình”.




    Phạm Phong Dinh
    https://hon-viet.co.uk/PhamPhongDinh_Mu ... oiDien.htm
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

HÙNG CA QUANG TRUNG

Bài viết bởi Hoàng Vân »







HÙNG CA
QUANG TRUNG

_______________________
Kha Tiệm Ly




“Đánh cho chúng chích luân bất phản
Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”
(Quang Trung)



*
Vó ngựa thù…
Vang rền biên ải
Nhói tim người áo vải cờ đào
Tuốt gươm thiêng, lấp lánh mấy tầng sao
Quyết giữ lấy quê hương từng ngọn cỏ
Máu hùng anh cháy ngời như ngọn lửa
Máu ba quân ngùn ngụt chí kiêu hùng
Ứng lời người,
Dài một dãy non sông…

Trường Sơn vội vươn mình cao thêm thước
Hoành Sơn vội xoay mình vươn tới trước,
Cho dòng quân như thác lũ dâng tràn
Một lời thề rúng động cả giang san…
“Đánh cho chúng chích luân bất phản
Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn” (*)

Từng dòng người như thác đổ miên man
Tiếng ngựa hí vang vang trời một cõi
Sau bạch tượng, vó câu ào đá sỏi
Sau tướng quân, gươm thép tuốt sáng ngời!
Bạch Đằng giang háo hức máu xưa sôi
Ngàn sông rạch như lưới trời bủa sẵn
Cửu Long Giang ào ào cơn quốc hận
Hoàng Liên Sơn ngân ngất chí ngang tàng…
Trống Ngọc Hồi chấn động đến Nam Quan
Đồn Khương Thượng quân thù thây chất đống
Tiếng quân reo, cướp hồn Sầm Nghi Đống
Tiếng quân reo, cuồn cuộn sóng sông Hồng…
Vó ngựa tung hoành giữa núi đao
Cứu dân thoát khỏi biển ba đào
Sông Hồng xác giặc lênh bênh nổi
Gò Đống thây thù chất ngất cao
Bảo kiếm sáng ngời rung ánh nguyệt
Chiến công chói rạng dậy tầng sao
Giang sơn một cõi nghìn thu vững
Tanh máu xâm lăng nhuộm chiến bào!

Hồ Thơm Nguyễn Huệ
Mãi mãi về sau
Chiến tích một thời rung bốn biển
Uy linh ngàn thuở động năm châu!

Hồ Thơm Nguyễn Huệ
Áo vải Tây Sơn.
Đường cũ dẫu mờ muôn dấu ngựa
Sử xanh còn tỏ dấu khuyên son!



KHA TIỆM LY
(1965)

Chú thích
(*) Lời vua Quang Trung nói với tướng sĩ trước khi xuất trận.
(*) Bài nầy làm năm 1965,
được đài PT Saigon cho ngâm vào ngày mùng 4 Tết;
và được nhiều nhật báo thời đó đăng.





https://www.facebook.com/khatiemly1252/ ... tHy6w2ahl?
          
Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 21047
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Xuân về lại nhớ Bạn Bè, một thời trên chiến địa

Bài viết bởi Hoàng Vân »

  •           





    Xuân về
    lại nhớ Bạn Bè, một thời trên chiến địa
    ____________________________
    Mường Giang






              
    “Phố xưa em buộc đôi hàng bím
    nay tóc về đâu, hồn ở đâu”

              

    Thơ Du tử Lê làm cho người lính già, bất chợt bâng khuâng trong cõi đi về nơi xứ lạ. Ngày xưa trên quê hương yêu dấu, chúng ta cũng vẫn là những con chim hồng tung bay trăm nẻo, thì ngày nay trong cõi lưu đày lại càng mù mịt bước lang thang. Xa quá rồi phải không quê hương, bè bạn? Vậy sao không ngồi xuống đây để cùng nhìn lại cuộc đời, rồi ôm nhau mà khóc cho thân phận nhược tiểu Việt Nam. Hai mươi năm chinh chiến đoạn trường, chúng ta những người lính, tính được bao nhiêu ngày vui khi được sống bên mẹ già em dại và người tình yêu dấu? hay đã tự dốc ngược đời mình trong lòng men đắng, trên giàn lửa thiêu, lang thang như mây chiều bên trời lẻ bóng.


              
    “..Từ khi bỏ học vào quân ngũ
    hôm đó dường như một buổi chiều
    nên lá vàng thu vèo khắp chốn
    giữa sầu bảng lảng tóc em yêu

    Ra đi không một lời chia biệt
    mang nhớ hành trang trĩu nặng hồn
    một chút tình hờ trăng lạnh lẽo
    đời trôi theo gió hát cô đơn

    Chiều chiều thôn bản quân dừng bước
    nhìn cỏ trong sân chợt nhớ trường
    tiếng guốc dẫn anh vào lớp học
    đôi hàng ghế đá tưởng em thương

    Đêm bên ga lạnh đèn soi bóng
    chờ chuyến tàu qua tận cõi nào
    khắc khoải bơ vơ đời tiễn biệt
    người về ta xót nỗi chia đau

    Phan Thiết trời ơi mồ kỷ niệm
    cố xa chân lại bước thêm gần
    như hình em núp trong trang sách
    khiến kẻ hoài mơ khóc bâng khuâng

    Thôi em đời có còn chi nữa
    dâu bể giờ đây cũng lặng lờ
    ta mất nửa hồn thơ tuổi ngọc
    chỉ còn theo gió khóc trăng mơ

    Hãy cứ tìm nhau theo bóng nhớ
    đôi bờ đứng gọi cố nhân đâu?
    rượu nồng ta rót đầy ly cạn
    mặc phiến lòng trơ khúc vọng sầu..:


    (TỪ KHI BỎ HỌC - MG)

              

    Rồi những ngày dưỡng quân nơi phố thị, lạc lõng giữa chốn sang nghèo, mới cảm nhận được cái chát chua tuổi trẻ, thương cho kiếp lính rẻ rúng phận bèo, đời thật là oan khiên định mệnh. Chịu đựng rồi gục ngã, câm nín tới hy sinh, những người lính cuối cùng may mắn còn sống sót lại phải đắng cay đối diện với kẻ thù.



    Đời ai mà không có bạn có bè nhưng đậm đà thắm thiết hơn vẫn là tình lính sống chết có nhau. Chính cái thâm giao huynh đệ chi binh đó, đã làm bén lửa những câu chuyện không bao giờ quên được giữa “Nó Và Tôi“, một thời trên chiến địa,


              
    “..Nó và tôi chung một ngày nhập ngũ
    nhưng không quen vì khác đạo khác trường
    chung đại đội mà chẳng chút thân thương
    mặt đối mặt vẫn hồn ai nấy biết

    Nó và tôi hai thằng cùng Phan Thiết
    nhưng không cùng một gốc gác quê hương
    nó Nghệ An, xa tít tận muôn phương
    tôi Bình Thuận dấu yêu miền biển mặn

    Nó tin Chúa quen an thân thầm lặng
    tôi phong trần, đời như có như không
    nên hai đứa vẫn cách một giòng sông
    dù sáng tối ăn nằm chung số phận

    Chín tháng dài mặc chung màu áo trận
    có trăm lần đã lấm lét nhìn nhau
    nhưng chẳng hề chào hỏi hay đổi trao
    mày Phan Thiết hay mày từ đâu tới

    Rồi định mệnh làm hai thằng chới với
    ai phân ly, tôi nó vẫn chung đường
    không thân thương chín tháng chốn quân trường
    đời quân ngũ lại trở thành tri kỷ

    Cũng từ đó khắp nẻo đường thiên lý
    từ Di Linh xuôi bờ bến La Ngà
    Lê Hồng Phong dẵm nát núi rừng xa
    tôi với nó chia đau niềm tân khổ

    Tết Củ Chi cụng ly quên nỗi nhớ
    Xuân Bầu Bàng bó gối ngóng chim bay
    khóc mẹ già em dại đợi tháng ngày
    mà con của mẹ vẫn chưa trở lại

    Rồi một sáng hè sang vàng tê tái
    nó hiên ngang gục chết giữa sa trường
    mùa bãi trường rộn rã khắp quê hương
    hè tang tóc, nó hiền khô tử trận


    (NÓ VÀ TÕI - Thơ MG)

              




    Thời gian trôi đi tưởng có thể làm vơi phần nào nỗi đau của những người lính được sống sót sau chiến trận, đã gởi vào gió đất những tiếng thầm thì, để cố níu lại thời gian cho mình được sống với đồng đội vừa gục ngã.



    Rồi hồi tưởng lại những đêm nào say cùng bạn bè trong ‘Quán Lẻ bên đưòng ', bằng xị rượu nồng, miếng khô nai cứng ngắc, nhai trong miệng mà ta cứ tưởng như đang nhai cả cuộc đời lận đận đắng cay của kiếp lính, cho nên uống vào như ta uống cả niềm đau sầu cháy long đong. Buồn quá đỗi lại càng buồn thêm khi chạnh nghĩ tới thằng bạn chung lớp vừa mới gặp lại trên đưòng dừng quân, thì sau đó không lâu đã được tin nó chết khi đơn vị đụng trận


              
    “..Những ngày chiến dịch về tăng phái
    Phan Thiết mùa mưa cũng cóng xương
    vào mật khu Lê rừng ngập cát
    đó đây mộ chí lạnh ven đường

    Qua khỏi Tà Dôn trời sắp sáng
    dừng quân gặp lại bạn thời xưa
    hỡi ơi chỉ mới xa trường cũ
    chinh chiến, nhìn ai cũng chóng già

    Ừ nhỉ mấy năm mình cách biệt
    từ ngày bỏ học khoác chinh y
    tôi người lính bộ đi trăm nẻo
    bạn Địa Phương Quân chẳng sướng gì

    Sẵn có mang theo bình rượu đế
    hai thằng mừng hội ngô chia nhau
    sớm mai bụng đói nên say khướt
    biết nói gì đây chỉ nghẹn ngào

    có rượu bỗng như quên chiến trận
    miên man tâm sự thuở hoa niên
    khiến sầu cô quạnh theo men đắng
    làm nhớ mù tăm chuyện ước nguyền

    Địch đã bắt dầu bằng pháo kích
    hẹn nhau dưới phố lại vui vầy
    nhưng đời lính trận làm sao biết
    không gục bên hào cũng nát thây

    Tin Địa Phương Quân bị đụng nặng
    làm ta tan biến hết cơn say
    muôn trùng biển sóng nghe lồng lồng
    cuộc chiến nào không máu thịt bầy

    Phan Thiết ngày đêm đời tấp nập
    chỉ ta hiu hắt quán bên đường
    nhìn chai rượu quý dành riêng bạn
    nay đã về đâu thật thảm thương

    Hơn bốn chục năm ngồi nhớ lại
    mời nhau bữa rượu chốn quê xa
    uống say ta lại ôm đàn hát
    Cho bớt niềm đau nỗi nhớ nhà

    Hồn bỗng đổ cơn mưa nước mắt
    bạn về mai gặp nữa hay không?
    hay như lời hẹn thời chinh chiến
    em cũng quên tôi đi lấy chồng.”


    (DỪNG QUÂN GẶP LẠI BẠN - MG)

              




    Tôi quen Trần Văn Thân trong dịp học lớp Hè luyện thi tại trường tư thục Bồ Đề Phan Thiết. Tuy thời gian gặp nhau ngắn ngủi nhưng tình bạn giữa “Nó và Tôi“ đã manh nha từ đó và trở thành tri kỷ. Tháng 10/1962 Thân vào lính, còn tôi tới tháng 6/1963 mới nhập ngũ. Thân phục vụ trong binh chủng LLĐB còn tôi là lính bộ binh. Hai đứa xa nhau từ đó.



    Sau Tết Mậu Thân 1968, Trần Văn Thân là Trưởng toán Thám Sát thuộc Đoàn Công tác 75, có nhiệm vụ xâm nhập vào các vị trí đóng quân của Các Đại Đơn Vị Cộng Sản Bắc Việt, để thu nhặt cập nhật hóa tin tức tình báo chiến lược. Theo tin tức của những đồng đội hiện còn sống sót tại hải ngoại cho biết Thiếu Uý Trần Văn Thân, đã bị mất tích vào mùa hè 1974 vì bị giặc săn đuổi, Thân đã bơi qua một con sông nước chảy xiết nên chết mất xác. Những giây phút thảm tuyệt này, đã được một nhân viên mang máy may mắn sống sót kể lại. Vậy mà từ ấy cho đến nay những người thân trong gia đình, thảm nhất là mẹ Thân là Bà Ngô Thị Dân ở Phan Thiết, cùng với người vợ trẻ tên Nguyễn Thị Liễu với ba con thơ dại tại Sài Gòn, lúc nào cũng ngong ngóng hy vọng là con và chồng-cha mình, vẫn còn sống trong các trại tù đâu đó, rồi cũng sẽ trở về như nhiều bạn bè của Thân cùng đơn vị và quê Phan Thiết. Cứ chờ đến nỗi mẹ già khóc mù cả hai mắt rồi gục chết vào năm 2000, nhưng vẫn không ngớt gọi tên đứa con thân yêu của mình. Riêng người vợ trẻ thay chồng nuôi con, ở vậy cho tới khi tất cả khôn lớn vào đời, còn mình thì cứ ôm ấp hình bóng của người chồng cũ, vẫn sống trong những di ảnh thân thương nguyên vẹn, mà chàng thì biền biệt tận phương nào?



    Là bạn nối khố của Trần Văn Thân, từ những ngày còn vất vưởng nơi chốn quê nghèo, cho tới khi hai đứa gặp lại ở Sài Gòn, Nha Trang.. một thời gian ngắn ngũi, rồi vĩnh viễn chia tay.. nên đã có những giòng thơ “Khóc Bạn“ sau khi đọc được tin bạn mình đã vùi thây nơi muôn trùng gió cát, hơn mấy chục năm về trước. Thơ này cũng viết tặng những bạn bè đã khuất như Nguyễn Hữu Ngải, Nguyễn Văn Bảy và em tôi Dinh Hoàng Điểu.


              
    ‘Cỏ đã úa trên nấm mồ nếu có
    xác cũng tàn theo bụi cát mênh mông
    vậy mà nay ai cũng vẫn đợi trông
    người lính trận lần đi lần vĩnh biệt

    đau đớn quá, tao quì đây rên xiết
    tưởng hồn mày như lẩn quẩn đâu đây
    chết oan khiên nên bạn hóa thành mây
    cho tao ngóng thêm bàng hoàng não nuột

    Nhớ buổi trước tụi mình cùng Phan Thiết
    nghèo xác xơ nên kết bạn tri âm
    tao ngông nghênh hứng chịu nỗi thăng trầm
    mày lập chí được tiếng đời rực rỡ

    Ngày hai đứa rời trường yêu, sách vở
    để vì đời làm lính giữ quê hương
    đêm cuối cùng ngồi ngắm cảnh sông Mường
    với hẹn hứa một ngày vui tao ngộ

    mười mấy lần xuân, đến đi bỡ ngỡ
    mà tao mày, mỗi lúc lại xa thêm
    thương nhớ nhau, chỉ nhắc cho đỡ thèm
    hay trao gửi những dòng thơ nhòa lệ

    nước bỗng mất đời quanh co dâu bể
    tao về quê thành một kẻ tội nhân
    nghe tin mày đã thoát khỏi nghiệp trần
    thương cho bạn, xót cho đời tận tuyệt

    chỉ mong được có ngày về Phan Thiết
    đến bờ sông Mường hội ngô cùng mày
    như lời hứa lúc hai đứa chia tay
    dù mày đã thành hồn ma dũng liệt
    (Khóc Bạn - MG)

              




    Có ai còn nhớ lối xưa để tìm về, mà có tìm chăng nữa thì cũng chỉ thấy những thành mộ chí hoang vu, cỏ lau xưa hiu quạnh, khiến cho những người lính già cứ ngẩn ngơ hóa bướm dù bàn tay vẫn ấp trên những trang báo ngày nào. Ngoài đêm bây giờ hình như tiếng ngựa vẫn còn lao xao hí hoài những hồi thúc giục, đời vẫn mở ra trước mắt như đang gọi hồn người lính đi vào cõi mông lung muôn trùng.


              
    ‘mai về nẻo ấy chiều sương khói
    ta biết tìm đâu bước bạn hiền
    vượt thác Mé Kông qua cầu khỉ
    Paské héo hắt bóng trăng đơn

    mai về quê mẹ qua biên giới
    thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung
    rừng núi vẫn xanh màu khát vọng
    chỉ ta hờn tủi kiếp tha hương


    MG

              




    Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Tháng 1-2017
    Mường Giang

    https://hon-viet.co.uk/MuongGiang_XuanV ... ienDia.htm
Trả lời

Quay về “Chuyên đề”